Đoàn Đại biểu cấp cao Quốc hội Vương quốc Campuchia thăm chính thức Việt Nam gồm có: Samdech Akka Moha Ponhea Chakrei Heng Samrin, Chủ tịch Quốc hội Vương quốc Campuchia, Trưởng Đoàn; bà Sao Ty Heng Samrin, Phu nhân Chủ tịch Quốc hội; ông Chheang Vun, Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại, Hợp tác quốc tế, Thông tin và Truyền thông; Phó Chủ tịch Nhóm Nghị sĩ hữu nghị Campuchia – Việt Nam, Đại biểu Quốc hội tỉnh Battambang; bà Ban Sreymom, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Giáo dục, Thanh thiếu niên, Thể thao, Tôn giáo, Văn hóa và Du lịch, Đại biểu Quốc hội tỉnh Pailin; ông Keo Piseth, Thư ký Ủy ban Pháp luật và Tư pháp, Chánh Văn phòng của Chủ tịch Quốc hội, Thành viên Nhóm Nghị sĩ hữu nghị Campuchia – Việt Nam, Đại biểu Quốc hội tỉnh Tbong Khmum; ông Sar Chamrong Thư ký Ủy ban Nhân quyền, dân nguyện, điều tra và quan hệ giữa Quốc hội và Thượng viện, Đại biểu Quốc hội tỉnh Kratie; ông Thorng Vorleak, Đại biểu Quốc hội tỉnh Prey Veng; ông Bou Lam, Đại biểu Quốc hội tỉnh Ratanakiri; ông Prak Nguon Hong, Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Vương quốc Campuchia tại Việt Nam; ông Leng Peng Long, Tổng Thư ký Quốc hội và một số cán bộ Ban thư ký và nhóm tháp tùng.

Chủ tịch Quốc hội Vương quốc Campuchia Samdech Heng Samrin.

Samdech Akka Moha Ponhea Chakrei Heng Samrin, Chủ tịch danh dự Đảng Nhân dân Campuchia (CPP), Chủ tịch Quốc hội Vương quốc Campuchia, Chủ tịch Hội đồng quốc gia Mặt trận Đoàn kết và Phát triển Tổ quốc Campuchia, sinh ngày 5/5/1934, quê quán ở xã Kok, huyện Pô-nhia Krek, tỉnh Kom-pong Chàm, dân tộc Khơ-me.

Quá trình công tác, năm 1959, ông tham gia hoạt động bí mật cơ sở. Năm 1960 đến 1962, ông là Chi ủy viên Chi Bộ cơ sở, tổ trưởng giao liên; năm 1963 đến 1967, là Chi ủy viên Chi bộ cơ quan Khu, Tổ trưởng giao liên khu Đông; năm 1968, là Chi ủy viên Chi bộ cơ quan, Tổ trưởng tổ y tế khu Đông; năm 1969, là Ủy viên thường vụ, Chính trị viên Trung đội.

Năm 1970, ông là  Phó Bí thư Chi bộ, Chính trị viên đại đội 4, Khu Đông. Năm 1971, ông là Thường vụ Đảng ủy, Tiểu đoàn phó tiểu đoàn 12, Khu Đông. Năm 1972, ông là Phó Bí thư Đảng ủy, Tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 12. Năm 1973 đến 1974, ông là Phó Bí thư Đảng ủy, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 126, khu Đông. Năm 1975, ông là Phó Bí thư Đảng ủy, Chính ủy kiêm Tư lệnh sư đoàn 4, Khu Đông. Năm 1976 đến 1978, ông là Đảng ủy viên Khu Đông, Phó Bí thư Đảng ủy Ban Tham mưu Khu Đông.

Ngày 2/12/1978, ông được bầu làm Chủ tịch Mặt trận Đoàn kết Dân tộc cứu nước Campuchia.

Ngày 8/1/1979, ông được cử giữ chức Chủ tịch Hội đồng Nhân dân Cách mạng nước Cộng hòa Nhân dân Campuchia.

Tháng 1/1979, tại Đại hội III, ông được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng Nhân dân Cách mạng Campuchia.

Tháng 5/1981, tại Đại hội IV, ông được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng Nhân dân Cách mạng Campuchia và Bộ Chính trị; được Quốc hội nước Cộng hòa Nhân dân Campuchia bầu làm Chủ tịch Hội đồng Nhà nước.

Tháng 12/1981, ông được bầu làm Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Nhân dân Cách mạng Campuchia.

Tháng 10/1985, ông được Đại hội V Đảng Nhân dân Cách mạng Campuchia bầu lại làm Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương; tháng 10/1991, Đại hội bất thường cử giữ chức Chủ tịch danh dự Đảng Nhân dân Campuchia (CPP).

Năm 1993, ông được Quốc vương Norodom Sihanouk (Nô-rô-đôm Xi-ha-núc) bổ nhiệm làm Cố vấn tối cao của Quốc vương.

Tháng 5/1993, ông là Nghị sỹ Quốc hội khóa I; tháng 5/1998, là Phó Chủ tịch thứ nhất Quốc hội Campuchia khóa II; tháng 5/2003, là Phó Chủ tịch thứ nhất Quốc hội Campuchia.

Năm 2005, ông được bầu làm Chủ tịch Quốc hội khóa III; năm 2007, kiêm giữ chức Chủ tịch Hội đồng quốc gia Mặt trận Đoàn kết và Phát triển Tổ quốc Campuchia; được Quốc vương phong tước Samdech Akka Moha Ponhea Chakrei (Xăm-đéc Ạ-kẹ Mô-ha Pô-nhia Cha-k’rây).
Năm 2008-2013, ông là Chủ tịch Quốc hội Campuchia khóa IV. Tháng 9/2013, ông là Chủ tịch Quốc hội Campuchia khóa V.

Tháng 9/2018 đến nay, ông là Chủ tịch Quốc hội Campuchia Khóa VI, nhiệm kỳ 2018-2023./.