Thứ ba,  19/01/2021

Tăng cường xây dựng lực lượng Công an nhân dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình mới

Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm đơn vị Công an nhân dân vũ trang bảo vệ Thủ đô Hà Nội, ngày 14-2-1961. Ảnh: Tư liệu TTXVN

Ðại tướng, GS, TS TÔ LÂM, Ủy viên Bộ Chính trị,

Bí thư Ðảng ủy Công an T.Ư, Bộ trưởng Công an

1. Khi lực lượng Công an nhân dân vừa ra đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quan tâm tới công tác xây dựng lực lượng Công an nhân dân. Người chủ trương xây dựng lực lượng Công an nhân dân toàn diện về chính trị, tư tưởng, tổ chức bộ máy và nhân cách đội ngũ cán bộ công an.

Về chính trị, Người cho rằng trung thành với Ðảng, Tổ quốc và nhân dân là nội dung quan trọng bậc nhất trong công tác xây dựng lực lượng Công an nhân dân. Trong mọi điều kiện, hoàn cảnh dù khó khăn, phức tạp, gian nan đến mấy, Công an nhân dân phải luôn tuyệt đối trung thành với Ðảng. Ðây là yêu cầu có ý nghĩa sống còn. Từ trên xuống dưới, cán bộ, chiến sĩ công an phải tuyệt đối phục tùng sự lãnh đạo của Ðảng, quán triệt, thực hiện tốt mọi chủ trương, đường lối, chính sách của Ðảng một cách nhất quán; hết lòng, hết sức phụng sự Ðảng, phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân.

Người yêu cầu lực lượng Công an phải nhận thức rõ: “Công tác công an phải gắn chặt với đường lối chính trị của Ðảng. Nếu thoát ly đường lối chính trị của Ðảng, thì dù khéo mấy cũng không kết quả”(1).

Về tư tưởng, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu lực lượng Công an phải luôn vững vàng. Nghĩa là, trong bộ máy công an từng cán bộ, chiến sĩ phải thấm nhuần tư tưởng xã hội chủ nghĩa. Bởi lẽ, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh muốn tiến lên chủ nghĩa xã hội trước tiên phải có con người xã hội chủ nghĩa. Muốn có con người xã hội chủ nghĩa cần phải có tư tưởng xã hội chủ nghĩa trước. Nhận thức rõ điều này cho nên trong Bài nói tại Trường Công an Trung ương, ngày 28-1-1958, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc nhở: “Trước hết cán bộ phải có tư tưởng xã hội chủ nghĩa, lập trường phải rõ ràng, vững chắc đã”(2). Vì theo Người: “Miệng nói tiến lên chủ nghĩa xã hội, nhưng tư tưởng còn không thông và hành động còn không đúng thì không tiến lên được”(3).

Xây dựng tổ chức bộ máy công an, Chủ tịch Hồ Chí Minh thấu hiểu: “Ðối với nhân dân, đối với Ðảng, với cách mạng xã hội chủ nghĩa, trách nhiệm của công an rất lớn, rất nặng nề. Cho nên phải xây dựng một bộ máy công an rất tốt, rất chắc chắn”(4). Vì thế, Người nhận thấy phải xây dựng một bộ máy công an cách mạng, kiểu mẫu, mang bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc sâu sắc. Ở đó, “Cách tổ chức công an phải giản đơn, thiết thực, tránh cái tệ quá hình thức, giấy má”(5). “Nội bộ công an từ cấp cao cho đến nhân viên phải đoàn kết nhất trí”(6). Ðồng thời, “Phải củng cố thật tốt công an khu phố, huyện và xã. Ðó là những cơ sở của công an”(7).

Về xây dựng đội ngũ cán bộ công an, Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh giá cán bộ, chiến sĩ công an giữ vị trí, vai trò nòng cốt, tiên phong, là “vũ khí sắc bén” bảo vệ Ðảng, Chính phủ và nhân dân. Cho nên, Người đặc biệt chú trọng xây dựng người cán bộ, chiến sĩ công an về mọi mặt. Trong đó, cán bộ, chiến sĩ công an trước hết phải “lấy đức làm cốt cán”. Từng cán bộ, chiến sĩ trong lực lượng Công an phải gương mẫu tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng “Ðối với tự mình, phải cần, kiệm, liêm, chính”; phải vững về chuyên môn, giỏi về nghiệp vụ, có kiến thức chuyên sâu “Vô luận ở quân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, tổ chức, tuyên truyền, công an, v.v., cán bộ ở môn nào phải học cho thạo công việc ở trong môn ấy”(8). Trong công việc, cán bộ, chiến sĩ công an phải có lề lối làm việc khoa học, tận tụy, có tác phong làm việc quần chúng “kính trọng, lễ phép” với nhân dân, thân ái, giúp đỡ đồng chí, đồng sự và “Phải luôn luôn cảnh giác và giữ kỷ luật chặt chẽ”(9).

Ðể xây dựng lực lượng Công an nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng phải làm tốt công tác cán bộ. Ðánh giá “cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, Người cũng cho rằng “huấn luyện cán bộ là công việc gốc”. Vì lẽ đó, Người căn dặn phải luôn làm tốt công tác cán bộ từ công tác tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng, khéo dùng cán bộ, đến công tác kiểm tra, giám sát, thi hành chế độ, chính sách khen thưởng – kỷ luật cán bộ. Cùng với vấn đề này, Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định xây dựng lực lượng Công an nhân dân là nhiệm vụ chính trị của Ðảng, của nhân dân, của từng cán bộ, chiến sĩ công an. Ðảng giữ vai trò lãnh đạo toàn xã hội và hệ thống chính trị cho nên ở mỗi giai đoạn cách mạng, căn cứ tình hình, mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ chính trị chung, Ðảng vạch ra yêu cầu, nhiệm vụ đối với Công an nhân dân. Ðảng đề ra các chủ trương, định hướng công tác cho công an và thường xuyên bổ sung, phát triển cho phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ trong từng thời kỳ. Theo Người, xây dựng lực lượng Công an nhân dân là trách nhiệm trực tiếp của từng cán bộ, chiến sĩ công an. Người huấn thị: “phải xây dựng một bộ máy công an rất tốt, rất chắc chắn. Ai phải xây dựng? Mỗi một cán bộ công an đều có trách nhiệm vào đấy. Ai cũng tiến bộ, cũng khắc phục được khuyết điểm, phát huy được ưu điểm, thì toàn bộ bộ máy công an sẽ tốt. Ðiều đó thật là rõ ràng, dễ hiểu cho nên mỗi cán bộ công an phải cố gắng, gương mẫu trong học tập, trong công tác, gương mẫu về đạo đức cách mạng”(10). Do vậy, mỗi cán bộ, chiến sĩ công an phải không ngừng cố gắng, phấn đấu vươn lên về mọi mặt. Qua đó, góp phần xây dựng lực lượng Công an nhân dân ngày càng trong sạch, vững mạnh. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng nhấn mạnh: “công an của ta là công an nhân dân, vì dân mà phục vụ và dựa vào nhân dân mà làm việc”(11). Cho nên, công an cũng phải biết phát huy “sáng kiến” của nhân dân để xây dựng, kiện toàn lực lượng.

2. Quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh, dưới sự lãnh đạo của Ðảng, từ khi ra đời đến nay lực lượng Công an nhân dân luôn coi trọng công tác xây dựng lực lượng về mọi mặt. Thời gian qua, Ðảng ủy Công an Trung ương, Bộ Công an đã chủ động, tích cực tham mưu với Ðảng, Nhà nước và gương mẫu, đi đầu trong việc triển khai thực hiện có hiệu quả nhiều chủ trương, giải pháp mang tính “đột phá” trong xây dựng lực lượng Công an nhân dân.

Thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “phải xây dựng một bộ máy công an rất tốt, rất chắc chắn”(12); “Cách tổ chức công an phải giản đơn, thiết thực”(13), Ðảng ủy Công an Trung ương, cấp ủy, lãnh đạo công an các đơn vị, địa phương đã chủ động tham mưu với Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ban Chấp hành Trung ương Ðảng, Quốc hội, Chính phủ, cấp ủy, chính quyền các cấp tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo đối với công tác xây dựng lực lượng Công an nhân dân. Ðặc biệt, Ðảng ủy Công an Trung ương chủ động tham mưu với Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 22-NQ/TW ngày 15-3-2018 về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy Bộ Công an tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả và tham mưu với Chính phủ ban hành Nghị định số 01/NÐ-CP ngày 6-8-2018 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công an. Triển khai thực hiện chủ trương trên, tổ chức Bộ Công an được tinh gọn: bỏ 6 tổng cục, giảm 55 đơn vị cấp cục, sáp nhập 20 Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy vào Công an tỉnh, thành phố. Tổ chức bộ máy Bộ Công an được xây dựng tập trung, thống nhất, chuyên sâu theo hướng “Bộ tinh, tỉnh mạnh, huyện toàn diện, xã bám cơ sở” làm cơ sở cho việc điều chỉnh, bố trí lại lực lượng và thực hiện tinh giản biên chế; tập trung đầu tư cho đơn vị trực tiếp chiến đấu, hướng về cơ sở. Các đơn vị cấp cục được sắp xếp lại theo nguyên tắc các đơn vị tương đồng về chức năng nhiệm vụ, các đơn vị không rõ nhiệm vụ, đối tượng công tác hoặc có chức năng, nhiệm vụ liên quan chặt chẽ với nhau mà trong quá trình hoạt động buộc phải có sự phối hợp thì sáp nhập, hợp nhất, bảo đảm một cơ quan đơn vị có thể đảm nhiệm được nhiều việc và một việc chỉ giao cho một cơ quan, đơn vị chủ trì chịu trách nhiệm chính. Các đơn vị cấp cục cũng thực hiện việc giảm các đầu mối đơn vị cấp phòng. Chính quy hóa công an cấp xã, thị trấn; tổ chức lại các học viện, trường công an nhân dân; quy hoạch mạng lưới các đơn vị sự nghiệp công lập trong Công an nhân dân; giảm tầng nấc trung gian, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp, tập trung của Ban Thường vụ Ðảng ủy Công an Trung ương và lãnh đạo Bộ Công an đối với công tác công an. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và mối quan hệ của các đơn vị được rà soát, bổ sung, hoàn thiện, khắc phục sự chồng chéo, trùng dẫm trong thực hiện nhiệm vụ.

Vận dụng sáng tạo lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Phải củng cố thật tốt công an khu phố, huyện và xã. Ðó là những cơ sở của công an”(14), Ðảng ủy Công an Trung ương, Bộ Công an với quyết tâm chính trị rất cao, chỉ đạo quyết liệt việc thực hiện chủ trương xây dựng công an xã chính quy. Chủ trương trên nhận được sự ủng hộ của các tỉnh ủy, thành ủy trong cả nước. Ðến nay 100% số xã trên toàn quốc đã được bố trí công an chính quy đảm nhiệm các chức danh công an xã. Ðây là một “điểm nhấn” trong công tác xây dựng lực lượng Công an nhân dân. Sau khi được triển khai xuống xã, lực lượng Công an chính quy đã tích cực thực hiện các nội dung công tác, kịp thời tham mưu với cấp ủy, chính quyền xã triển khai nhiều kế hoạch, biện pháp nhằm đảm bảo an ninh, trật tự tại địa bàn; tăng cường gắn kết, phối hợp với các ban ngành, đoàn thể trên địa bàn trong công tác đảm bảo an ninh, trật tự; nhanh chóng triển khai bám cơ sở, bám dân, tổ chức ứng trực, tăng cường tuần tra, kiểm soát bảo đảm an ninh trật tự. Do đó, tình hình an ninh, trật tự tại địa bàn xã đều có những chuyển biến tích cực, tình hình tội phạm, vi phạm pháp luật về trật tự an toàn xã hội giảm đáng kể. Qua đó góp phần ổn định tình hình ở cơ sở, phục vụ nhiệm vụ kinh tế – xã hội ở địa phương và đem lại cuộc sống bình yên, hạnh phúc cho nhân dân ngày càng tốt hơn.

Quán triệt sâu sắc quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “cán bộ là cái gốc của mọi công việc”(15), “Muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém”(16), các cấp ủy, tổ chức đảng trong Công an nhân dân luôn nhận thức rõ cán bộ là khâu đột phá, là thành tố quan trọng hàng đầu. Ðảng ủy Công an Trung ương, Bộ Công an có nhiều giải pháp quyết liệt nhằm chấn chỉnh, thực hiện nghiêm công tác tổ chức, cán bộ; chỉ đạo ban hành đồng bộ hệ thống các quy định về công tác cán bộ phù hợp với mô hình tổ chức bộ máy mới, đồng thời chuẩn hóa các quy định, quy trình về công tác cán bộ theo đúng hướng dẫn của Trung ương, khắc phục tình trạng chiếu cố điều kiện, tiêu chuẩn khi xem xét về cán bộ. Cấp ủy, lãnh đạo công an các đơn vị, địa phương nghiêm túc triển khai, thực hiện các quy định của Trung ương, của Ðảng ủy Công an Trung ương, Bộ Công an về công tác tổ chức, cán bộ; thực hiện chặt chẽ công tác tuyển dụng, đào tạo, quản lý, quy hoạch, bổ nhiệm, luân chuyển, thực hiện tốt công tác thi đua, khen thưởng, siết chặt kỷ cương, kỷ luật, điều lệnh Công an nhân dân; giải quyết khiếu nại, tố cáo; chế độ, chính sách đối với cán bộ; tăng cường rà soát chính trị nội bộ. Việc điều động, bố trí lại cán bộ theo yêu cầu sắp xếp tổ chức bộ máy của các đơn vị được tiến hành một cách khách quan, công tâm theo đúng yêu cầu của công việc, đúng chuyên môn, nghiệp vụ được đào tạo; từng bước xây dựng đội ngũ lãnh đạo, chỉ huy đảm bảo tiêu chuẩn và cơ cấu độ tuổi theo quy định. Luôn quan tâm chỉ đạo, bồi dưỡng, đào tạo, xây dựng đội ngũ cán bộ trong Công an nhân dân, nhất là đội ngũ cán bộ chủ chốt có bản lĩnh chính trị vững vàng, giỏi về chuyên môn nghiệp vụ, đạo đức cách mạng trong sáng, có năng lực thực tiễn đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của tình hình mới. Chuẩn bị tốt nhân sự phục vụ đại hội đảng các cấp, cấp ủy, lãnh đạo công an các cấp căn cứ quy định, hướng dẫn của Trung ương, của Ðảng ủy Công an Trung ương, Bộ Công an đã chủ động xây dựng phương án nhân sự công an tham gia cấp ủy các cấp nhiệm kỳ 2020 – 2025; việc lựa chọn nhân sự bảo đảm điều kiện, tiêu chuẩn, cơ cấu, số lượng và phải lựa chọn được người có tài, có đức, có uy tín tham gia cấp ủy.

Do thực hiện có hiệu quả nhiều chủ trương, giải pháp trong xây dựng lực lượng Công an nhân dân vững mạnh về mọi mặt, vì vậy bộ máy công an không ngừng được củng cố vững chắc, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả và đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được Ðảng, Nhà nước và nhân dân giao phó. Ðội ngũ cán bộ, chiến sĩ công an tiếp tục phát triển, trưởng thành về mọi mặt; có bản lĩnh chính trị vững vàng, tuyệt đối trung thành với Ðảng, Nhà nước, Tổ quốc và nhân dân; có phẩm chất đạo đức cách mạng trong sáng, lối sống trong sạch, giản dị, ý thức tổ chức kỷ luật nghiêm minh; tận tụy phục vụ nhân dân; mưu trí, dũng cảm trong đấu tranh phòng, chống các loại tội phạm, bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội; có năng lực nghiệp vụ nắm vững pháp luật; có tri thức về khoa học kỹ thuật, ngoại ngữ, tin học và kiến thức, hiểu biết cần thiết để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, luôn xứng đáng với danh dự, truyền thống vẻ vang của Công an nhân dân Việt Nam.

3. Tình hình quốc tế, khu vực đang tiếp tục có những diễn biến nhanh chóng, phức tạp, tiềm ẩn nhiều nguy cơ mất ổn định. Chủ nghĩa khủng bố, ly khai, tranh chấp chủ quyền lãnh thổ là những mối đe dọa đến độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nhiều quốc gia trên thế giới. Bên cạnh những nguy cơ đe dọa an ninh truyền thống, các quốc gia trên thế giới cũng đồng thời phải đối mặt với nhiều hiểm họa đe dọa an ninh phi truyền thống. Nổi lên là chủ nghĩa dân tộc cực đoan, chủ nghĩa khủng bố, phổ biến vũ khí hạt nhân, vũ khí giết người hàng loạt, nguy cơ khủng hoảng tài chính, tiền tệ, nguy cơ cạn kiệt nguồn năng lượng, vấn đề an ninh lương thực, an ninh mạng, biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường sống, thiên tai, dịch bệnh truyền nhiễm… Những nguy cơ trên đe dọa đến an ninh trên phạm vi toàn cầu, không một quốc gia nào có thể đứng ngoài cuộc mà phải cùng nhau giải quyết. Tình hình đó đang đặt ra yêu cầu ngày càng cao, ngày càng nặng nề đối với công tác bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội của Việt Nam. Ðể hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, lực lượng Công an nhân dân phải tiếp tục được xây dựng thực sự trong sạch, vững mạnh toàn diện theo tư tưởng Hồ Chí Minh; cần tập trung làm tốt một số nhiệm vụ sau đây:

Một là, tăng cường công tác giáo dục nâng cao nhận thức của cán bộ, chiến sĩ toàn lực lượng thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng lực lượng Công an nhân dân. Công an các đơn vị, địa phương, nhất là các học viện, trường công an nhân dân phải đẩy mạnh công tác nghiên cứu để tiếp tục làm rõ nội dung, giá trị khoa học của tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng lực lượng Công an nhân dân; sử dụng hiệu quả các hình thức, biện pháp tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức cho cán bộ, chiến sĩ hiểu rõ hơn nội dung, giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng lực lượng Công an nhân dân; gắn kết công tác nghiên cứu, tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng lực lượng Công an nhân dân với đẩy mạnh học tập, thực hiện Sáu điều Chủ tịch Hồ Chí Minh dạy Công an nhân dân và tổ chức, triển khai thực hiện có hiệu quả việc học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh một cách sâu rộng, tự giác trong toàn lực lượng; chủ động đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng, tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng lực lượng Công an nhân dân.

Hai là, công an các đơn vị, địa phương phải tiếp tục quán triệt sâu sắc và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong công tác xây dựng lực lượng một cách sáng tạo, thường xuyên, phù hợp với từng điều kiện, hoàn cảnh, gắn với thực hiện nhiệm vụ chính trị của từng đơn vị, công an địa phương. Chủ động tham mưu, đề xuất với Ðảng, Nhà nước, cấp ủy, chính quyền địa phương các chủ trương, giải pháp lãnh đạo, chỉ đạo công tác xây dựng lực lượng Công an nhân dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương, chính sách của Ðảng là “kim chỉ nam” cho công tác xây dựng lực lượng Công an nhân dân trong mọi điều kiện, hoàn cảnh; chủ động triển khai thực hiện các giải pháp xây dựng lực lượng công an thiết thực, hiệu quả gắn với phòng chống tiêu cực, lãng phí.

Ba là, tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ lãnh đạo, chỉ huy các cấp đủ phẩm chất, năng lực ngang tầm nhiệm vụ. Tiếp tục triển khai Kế hoạch của Ðảng ủy Công an Trung ương thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 19-5-2018 của Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Ðảng lần thứ bảy, khóa XII về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; triển khai sắp xếp cán bộ theo khung tiêu chuẩn, tiêu chí bố trí cán bộ ở bốn cấp công an. Nghiên cứu, hoàn thiện các cơ chế, chính sách tạo động lực đối với cán bộ; quy định về đội ngũ chuyên gia, trí thức công an nhân dân; chính sách thu hút, trọng dụng nhân tài trong công an nhân dân. Tăng cường công tác bảo vệ chính trị nội bộ. Xác định rõ trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức đảng và thủ trưởng công an các đơn vị, địa phương trong công tác quản lý cán bộ, đảng viên; thực hiện nghiêm các quy định về công tác bảo vệ chính trị nội bộ, bảo vệ bí mật nhà nước.

Bốn là, tiếp tục sắp xếp, hoàn thiện tổ chức bộ máy của lực lượng Công an nhân dân theo tinh thần Nghị quyết số 22-NQ/TW, ngày 15-3-2018 của Bộ Chính trị. Nghiên cứu xây dựng các tiêu chí đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động, các quy định để đề cao và gắn trách nhiệm của cấp ủy, người đứng đầu trong lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ của công an các đơn vị, địa phương. Tiếp tục thực hiện chủ trương tinh giản biên chế, sắp xếp đội ngũ cán bộ theo hướng “Bộ tinh, tỉnh mạnh, huyện toàn diện, xã bám cơ sở”.

Năm là, nâng cao chất lượng công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng trong Công an nhân dân. Tiếp tục nâng cao nhận thức của các cấp ủy, tổ chức đảng, ủy ban kiểm tra các cấp và đội ngũ cán bộ, đảng viên về công tác kiểm tra, giám sát; nghiên cứu hoàn thiện các quy định, quy trình nhằm nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng trong Công an nhân dân. Xây dựng, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật Ðảng. Ban hành mới các quy định về quy chế phối hợp giữa tổ chức đảng với cơ quan nhà nước, đoàn thể chính trị – xã hội trong công tác kiểm tra, giám sát. Công tác kiểm tra, giám sát phải được tiến hành một cách thường xuyên, chặt chẽ, lấy phòng ngừa là chính; đồng thời, kiên quyết xử lý các tổ chức, cán bộ đảng viên vi phạm không có vùng cấm, không có ngoại lệ. Mở rộng hoạt động giám sát, nhất là giám sát theo chuyên đề; chủ động nắm chắc tình hình của các cấp ủy, tổ chức đảng, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, chỉ huy, người đứng đầu để sớm phát hiện những dấu hiệu vi phạm. Chú trọng kiểm tra, giám sát toàn diện công tác cán bộ, người đứng đầu ở các địa bàn, lĩnh vực dễ nảy sinh sai phạm, tiêu cực, dư luận bức xúc, nhiều đơn thư tố cáo, phản ánh. Tăng cường theo dõi, giám sát chặt chẽ việc thực hiện quyết định, kết luận sau thanh tra, kiểm tra, kiểm toán. Tập trung giải quyết dứt điểm các đơn thư tố cáo, khiếu nại đối với tổ chức đảng, đảng viên. Kiện toàn tổ chức ủy ban kiểm tra các cấp đủ số lượng, bảo đảm chất lượng. Xây dựng đội ngũ cán bộ kiểm tra đủ về số lượng, bảo đảm chất lượng, có phẩm chất đạo đức trong sáng, có bản lĩnh, tính chiến đấu cao, có kỹ năng nghiệp vụ thuần thục, phương pháp công tác khoa học, công tâm, khách quan, sâu sát. Nâng cao chất lượng công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Ðảng. Chú trọng nghiên cứu các chủ trương, biện pháp, cơ chế, chính sách để chủ động phòng ngừa, ngăn chặn xảy ra vi phạm của tổ chức đảng và đảng viên.

Sáu là, tăng cường tiềm lực vật chất, kỹ thuật nhằm xây dựng lực lượng tinh nhuệ, từng bước hiện đại, hiện đại hóa ngay một số lực lượng mũi nhọn. Phát huy tối đa nhân tố con người, trí tuệ, tinh thần đoàn kết trong nội bộ ngành công an gắn với việc chú trọng phát huy vai trò của cả hệ thống chính trị, của các nguồn lực, vai trò của quần chúng nhân dân để xây dựng lực lượng Công an nhân dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Tăng cường và làm tốt công tác sơ kết, tổng kết thực tiễn, đúc rút kinh nghiệm, bổ sung hoàn thiện lý luận, gắn với thi đua, khen thưởng và đề ra các giải pháp xây dựng lực lượng Công an nhân dân ngày càng trong sạch, vững mạnh toàn diện theo tư tưởng Hồ Chí Minh.

———————————————

1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011 t.15, tr.140.

2. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.11, tr.248.

3. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.11, tr.248.

4. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.11, tr.250.

5. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.6, tr.312.

6. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.7, tr.270.

7. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.14, tr.72.

8. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.309 – 310.

9. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.9, tr.116.

10. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.11, tr.250.

11. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.498.

12. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.11, tr.250

13. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.6, tr.312.

14. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.14, tr.72.

15. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.309.

16. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.280

Theo Nhandan