Thứ hai, 22/10/2018

Nội dung Tọa đàm về nâng cao hiệu quả hoạt động của DNNN

Tuy chiếm chưa đến 1% tổng số lượng doanh nghiệp, nhưng các doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) lại đang nắm giữ những lĩnh vực kinh tế then chốt của đất nước và đóng góp lớn nhất vào GDP với tỉ trọng gần 30%. Ngoài ra, khu vực kinh tế này còn góp phần quan trọng giải quyết việc làm cho người lao động, đảm bảo an sinh xã hội, thực hiện các nhiệm vụ quốc phòng, an ninh.

Tuy nhiên, hiệu quả hoạt động của các DNNN hiện vẫn chưa tương xứng với nguồn lực khổng lồ đang nắm giữ. Làm thế nào để phát huy hiệu quả sản xuất kinh doanh trong hệ thống hành lang pháp lý chung của Nhà nước về phát triển DN để DNNN thực sự có vị trí then chốt, là lực lượng vật chất quan trọng của kinh tế Nhà nước cần sớm phải được Nhà nước quan tâm thực hiện.

Theo kế hoạch, Hội nghị Thủ tướng Chính phủ với DNNN do Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc và Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ, Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng chủ trì sẽ được tổ chức tại Hà Nội vào ngày 28/9 tới.

Để góp phần hướng tới thành công cho hội nghị này, cũng như góp thêm những ý kiến, kiến nghị của các DN, chuyên gia nhằm phát huy vai trò của DNNN, Cổng Thông tin điện tử Chính phủ tổ chức cuộc tọa đàm với chủ đề: “Nâng hiệu quả DNNN: Minh bạch thông tin, đổi mới quản trị” với sự tham dự của ông Phùng Văn Hùng, Ủy viên thường trực Ủy ban Kinh tế của Quốc hội, ông Đặng Quyết Tiến, Cục trưởng Cục Tài chính DN (Bộ Tài chính), chuyên gia kinh tế Lưu Bích Hồ, nguyên Viện trưởng Viện Chiến lược phát triển.

Các vấn đề liên quan tới phát triển DNNN được Nghị quyết của Hội nghị Trung ương 5 khoá XII mới đây nhìn nhận và xác định cho hệ thống chính trị triển khai thực hiện. Trên thực tế, các nội dung về phát triển DNNN cũng đã được nhắc tới tại các cuộc họp giao ban của Ban Chỉ đạo đổi mới DN. Vậy, mục đích của hội nghị này sẽ tập trung vào những vấn đề gì của DNNN?

Ông Đặng Quyết Tiến: Mục đích hội nghị toàn quốc của Chính phủ về DNNN tổ chức vào cuối tháng 9 này tập trung vào rà soát và đánh giá 2 năm nhiệm kỳ 2016-2020, xét về công tác cổ phần hóa (CPH), thoái vốn, sắp xếp đổi mới DNNN đạt đến đâu; hơn một năm chúng ta thực hiện theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 5 khoá XII và triển khai theo Nghị quyết 60 của Quốc hội khi Quốc hội có chuyên đề về rà soát tình hình xây dựng pháp luật và thực hiện sắp xếp đổi mới DNNN và CPH. Đây là hội nghị để chúng ta nhìn lại chặng đường nhiệm kỳ đã qua và thấy được những khó khăn, tồn tại, vướng mắc, đặc biệt những hạn chế để kịp thời khắc phục, đảm bảo hoàn thành công cuộc sắp xếp đổi mới DNNN mà Đảng, Quốc hội giao nhiệm vụ cho Chính phủ.

Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ yêu cầu các DN phải trình bày các vướng mắc để thực hiện nhiệm vụ sản xuất kinh doanh tại hội nghị. Ông có thể cho biết rõ hơn các tập đoàn sẽ báo cáo những gì để Chính phủ, các bộ, ngành tháo gỡ khó khăn cho họ?

Ông Đặng Quyết Tiến: Đến thời điểm hiện nay, chúng tôi nhận được 461 kiến nghị của 18 bộ, cơ quan ngang bộ, 44 tập đoàn, tổng công ty và 46 địa phương.

Các kiến nghị của DN thuộc các bộ, ngành tập trung vào các vấn đề triển khai thực hiện có những vướng mắc gì, vấn đề xác định giá trị DN, hay việc sắp xếp kinh doanh, tháo gỡ khó khăn… đặc biệt là xử lý những vấn đề tồn tại kinh doanh thua lỗ của các dự án, tập đoàn kinh tế.

Đây là một dịp để Chính phủ, các bộ, ngành, DN để bàn bạc tháo gỡ, tìm ra giải pháp đẩy nhanh tiến độ CPH sắp xếp DN nhà nước. Đồng thời tháo gỡ, xử lý những dự án tồn tại khó khăn mà thời gian qua dư luận đang quan tâm.

Ông kỳ vọng như thế nào về những kiến nghị của DNNN tại hội nghị sắp tới?

Ông Phùng Văn Hùng: Tất cả các kiến nghị của DN đều được hoan ngênh. Mục đích cuối cùng DN kiến nghị là để DN hoạt động có hiệu quả.

Tuy nhiên, các cơ quan quản lý cần xem xét, cân nhắc, đánh giá các kiến nghị. Kiến nghị đó có phù hợp với cơ chế kinh tế thị trường hay không, có phù hợp với hệ thống pháp luật của chúng ta hay không, có phù hợp với tiến trình hội nhập và cam kết của Việt Nam trong các hiệp định mà mình là thành viên? Nếu cân nhắc được những khía cạnh đó, chúng ta sẽ chọn được kiến nghị nào cần phải giải quyết, đáp ứng mong đợi của DN.

Nhiều DNNN đã CPH và theo đó, phải thực hiện các quy chế hoạt động theo kinh tế thị trường. Tuy nhiên, nhiều DN vẫn xin cơ chế từ Nhà nước hay các bộ, ngành vẫn còn “bao bọc” DN, tạo ra những cạnh tranh ko bình đẳng với các loại hình DN khác. Ông nhìn nhận thực trạng này hiện nay như thế nào?

Ông Lưu Bích Hồ: Tôi cho rằng DNNN đã tồn tại quá lâu trong thể chế được ưu tiên, ưu đãi, bao cấp nên tư duy và thói quen vẫn chưa thay đổi được triệt để. Trong đó, môi trường đầu tư kinh doanh có phần chưa thật sự bình đẳng, DNNN vẫn được ưu tiên, ưu đãi về số mặt như đất đai, vốn,… Một lý do nữa, nhiều DNNN hoạt động không hiệu quả, hoặc hiệu quả thấp, sức cạnh tranh trên thị trường yếu, thua lỗ kéo dài không giải quyết được nên vẫn trông vào Nhà nước hỗ trợ.

Nhiều ý cho rằng DNNN là “sân sau” của các bộ chủ quản, hay các ngành chủ quản. Các bộ, ngành đó dựa vào DNNN để được lợi ích nhóm. Đó là một thực tế đã kéo dài nhiều năm. Dù tích cực đổi mới và cải cách nhưng vẫn chưa thay đổi được như yêu cầu và mong muốn, do đó cải cách DNNN còn nhiều lực cản.

Ông Phùng Văn Hùng. 

 

Với vấn đề trên, mới đây Tập đoàn Hoá chất Việt Nam (Vinachem) vừa xin sửa luật thuế để áp thuế cao hơn đối với phân đạm nhập khẩu để giá thành phân đạm của Vinachem sản xuất cạnh tranh được với hàng nhập khẩu, tạo điều kiện cho tập đoàn xử lý các DN yếu kém. Ông nhìn nhận về việc này như thế nào?

Ông Phùng Văn Hùng: Như tôi đã nói, mọi kiến nghị của DN đều được hoan nghênh, khi Vinachem kiến nghị sửa đổi Luật số 71 do Quốc hội khóa 13 ban hành để sửa đổi bổ sung một số điều về luật thuế, tôi nghĩ rằng trách nhiệm của các cơ quan Nhà nước cần phải xem xét.

Như tôi được biết, Vinachem kiến nghị sửa đổi thuế giá trị gia tăng của phân bón nhập khẩu, đây là một vấn đề rất lớn. Khi ban hành Luật số 71, chúng ta đưa phân bón vào đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng nhằm tạo điều  kiện cho giá phân bón được giảm xuống và đáp ứng mong mỏi của bà con là mua phân bón với giá hợp lý, phục vụ quá trình sản xuất. Tuy nhiên quá trình triển khai Luật này, các DN khó khăn trong cạnh tranh với phân bón nhập khẩu. Tôi cho rằng đây là một vấn đề cần xem xét.

Trong quá trình triển khai thực hiện những chính sách pháp luật ban hành có thể có những điều cần phải điều chỉnh kịp thời để phù hợp. Kiến nghị của Tập đoàn Hóa chất cần xem xét. Trước tiên Chính phủ cần nghiên cứu, đánh giá tác động của đề xuất này. Nếu chúng ta đáp ứng được đề nghị của Tập đoàn, từ đó kiến nghị sang Quốc hội xem xét, sửa đổi luật thuế. Đây là quá trình được quy định trong luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

DNNN thì cũng phải tuân thủ các quy định của pháp luật như Luật DN, Luật Đầu tư quản lý vốn Nhà nước tại DN, trong đó có nhiều nội dung đề cao tính thị trường. Vấn đề ở đây là sự tự chủ của các DNNN?

Ông Lưu Bích Hồ: Trước hết, đã có luật dứt khoát phải làm theo luật. Tuy nhiên ở nước ta, việc thi hành và tuân thủ luật pháp còn yếu. Do đó cần phải kiên quyết khắc phục tình trạng không làm theo luật. Không chỉ về phía DN, mà còn về phía các cơ quan quản lý cần phải nghiêm khắc, nghiêm túc trong vấn đề này, dứt khoát chấm dứt xin-cho với nghĩa là không hợp lý. Xin-cho dứt khoát không được. Xin-cho thể hiện không bình đẳng, không minh bạch, sinh ra tiêu cực và tham nhũng.

Tôi hoàn toàn ủng hộ ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ vừa qua là kiên quyết thực hiện thị trường dân chủ, tự chịu trách nhiệm trong việc giải quyết những yếu kém của DNNN và trong việc thực hiện CPH. Các ngành, các bộ, cơ quan quản lý cùng DN phải thấu triệt và chấp hành. Không được như vậy cần có những giải pháp xử lý, ít nhất không làm được, những người chịu trách nhiệm đứng sang một bên để cho người khác làm, như Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ đã nói.

Về câu chuyện của Vinachem, tôi thấy cần xem xét rất cụ thể, rất cẩn thận. Bởi vì nhiều DN cũng rơi vào tình trạng như vậy. Chúng ta hội nhập, chúng ta phải tuân thủ, nên xin giảm thuế là rất khó. Tôi rất đồng tình với ý kiến của ông Phùng Văn Hùng, tuy nhiên đề nghị Quốc hội phải cân nhắc, xem xét thật kỹ để đồng bộ với các DN khác, các tình hình đã xảy ra ở nhiều nơi chứ không chỉ riêng Vinachem.

Ở góc độ Bộ Tài chính, xin ý kiến ông Đặng Quyết Tiến?

Ông Đặng Quyết Tiến: Vấn đề Vinachem đề xuất tăng thuế giá trị gia tăng đối với phân bón, sản xuất phân bón… là một trong những ý kiến của rất nhiều DN sản xuất phân bón trong Hiệp hội Phân bón Việt Nam, vì vậy chúng ta cần rà soát kỹ. Nếu việc tăng thuế này đem lại lợi ích cao hơn cho các DN, đặc biệt hỗ trợ cho phát triển nông nghiệp nông thôn theo đúng định hướng công nghệ cao và công nghệ sạch, chúng ta cần xem xét đánh giá tác động để ủng hộ.

Nếu cắt nghĩa đây chỉ là ý kiến riêng của Vinachem, chúng tôi thấy không công bằng cho tập đoàn này. Vấn đề này được bàn rất nhiều và trong Hiệp hội Phân bón cũng đã nêu.

Hiện nay Vinachem có 4 dự án đang khó khăn, thua lỗ. Việc cơ cấu sắp xếp lại DN này phải tôn trọng theo đúng chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, đúng theo Nghị quyết của Đảng và chỉ đạo của Quốc hội, đó là theo cơ chế thị trường. Nhà nước, ngân sách không bỏ vốn vào đây.

Theo thị trường có nghĩa, đầu tiên phải cắt giảm chi phí, đổi mới lại cách quản trị, những gì không hơp lý phải bỏ đi. Thứ hai, giá thành sản xuất phải có sức cạnh tranh bán được, nếu sản xuất ra không bán được thì phải dùng biện pháp khác mạnh hơn, chứ không chỉ giải pháp về thuế. Thuế chỉ là một trong những giải pháp hỗ trợ chung và bình đẳng cho các thành phần kinh tế. Luật đã quy định, các thành phần kinh tế phải hoạt động bình đẳng theo luật.

Đối với phân bón, hóa chất, đó là một trong những tiếng nói chung của các hiệp hội phân bón. Tuy nhiên đối với hóa chất, tôi cho rằng đây không phải là vấn đề căn cơ. Căn cơ nhất là phải xem xét lại mình có gì chưa trọn vẹn, chưa đúng thị trường, còn bao cấp không, cái gì đang trông chờ vào Nhà nước thì bỏ ngay, tập trung nhìn thẳng vào sự thật.

Với những giải pháp Chính phủ đưa ra và kiên quyết theo thị trường, trong 4 DN có 2 DN của hóa chất hoạt động có hiệu quả, đã có lãi, tuy nhiên lỗ vẫn còn, 2 DN vẫn còn khó khăn. Những DN này vẫn tiếp tục cần phải cơ cấu lại.

Trong hội nghị tới đây, một trong những tinh thần của hội nghị là quán triệt tư tưởng nhận thức Nghị quyết của Đảng, Nghị quyết của Quốc hội là các DNNN phải đi theo thị trường. Nếu không làm được, không cạnh tranh được với thành phần kinh tế tư nhân thì hãy giải phóng nguồn lực của mình để cho thành phần kinh tế khác phát triển.

Liên quan tới việc xử lý 12 dự án yếu kém của ngành công thương, sau gần 2 năm triển khai xử lý, kết quả tới nay là như thế nào so với yêu cầu đặt ra là xử lý căn bản vào năm 2020?

Ông Đặng Quyết Tiến: Hiện nay, với chỉ đạo quyết liệt của Thủ tướng, các Phó Thủ tướng, các bộ trưởng, các bộ và bản thân các DN đã rà soát lại, thực hiện một số biện pháp quyết liệt trong vấn đề đổi mới quản trị, rà soát chi phí.

Sau hơn 1 năm, chúng tôi đã tổng kết lại: Trong 12 dự án có 4 dự án bắt đầu khôi phục lại, đã hoạt động sản xuất lại, có 2 DN bên hóa chất đã có lãi.

Còn lại chúng tôi đã chia nhóm như sau: Trong 6 nhà máy hoạt động kinh doanh thua lỗ, sau khi cơ cấu lại 2 DN đã có lãi, đó là dự án Thép Lào Cai và DAP1. 4 dự án bắt đầu giảm lỗ, nhưng vẫn còn lỗ, đó là dự án về phân đạm Hà Bắc, đạm  Ninh Bình, DAP 2 của Lào Cai, công ty đóng tàu Dung Quất. 3 dự án trước đây dừng sản xuất, đến nay bắt đầu khởi động lại, bắt đầu sản xuất thử, trong đó có dự án xơ sợi Đình Vũ. 3 dự án đang xây dựng dở dang, đang tính toán lại, trong đó có những dự án chúng ta cương quyết thực hiện theo biện pháp quyết liệt. Ví dụ như nhà máy giấy Phương Nam sẽ bán để thu hồi vốn, Nhà nước không hỗ trợ nữa; nhà máy sinh học Phú Thọ, gang thép Thái Nguyên rà soát lại và tìm nhà đầu tư để mua.

Như vậy tất cả 12 dự án của ngành công thương được triển khai đúng tiến độ, theo đúng kế hoạch, phương án mà Ban Chỉ đạo đưa ra. Tuy nhiên, xử lý 12 dự án này vẫn còn rất khó khăn bởi chúng ta cương quyết làm theo thị trường. Ví dụ, có những dự án bán không được chúng ta phải chấp nhận phá sản; có những dự án không bán được, không khởi động được thì phải chuyển sang hình thức khác.

Theo nhận định của chúng tôi, hiện nay các dự án đang ở trong lộ trình. Thời gian tới, quan trọng nhất là các DN, các bộ, ngành, lãnh đạo DN phải nói thẳng, nói thật, công khai tình hình minh bạch ra. Hằng năm nên báo cáo tiến độ. Có như vậy các bộ, ngành, các chuyên gia kinh tế, Quốc hội, Chính phủ mới đưa ra được giải pháp căn cơ để xử lý dứt điểm 12 dự án thua lỗ này. Ngay vấn đề giải thể, phá sản cũng là một giải pháp tích cực, nếu chúng ta duy trì lại không hiệu quả. Đó là những thông điệp của Chính phủ cũng như lãnh đạo các bộ, ngành đang kiên quyết như vậy.

Nhiều dự án gặp những vướng mắc pháp lý rất phức tạp như đạm Ninh Bình, thép Thái Nguyên giai đoạn 2. Nhưng cũng có ý kiến cho rằng nếu Nhà nước bán dự án cho tư nhân thì việc xử lý những pháp lý này sẽ nhanh hơn và xoá bỏ những trì trệ của dự án? Hay như đề xuất của PVN là được dùng vốn của Tập đoàn để thúc đẩy việc xử lý yếu kém, trì trệ ở đóng tàu Dung Quất, PVTEX…? Ông có nhận xét gì trước những ý kiến, đề xuất này?

Ông Đặng Quyết Tiến: Tôi cho rằng có rất nhiều nhà đầu tư tư nhân quan tâm đến các dự án này. Những dự án này không phải không có tiềm năng, mà quan trọng là chúng ta phải tìm được nhà đầu tư đúng, tính đúng, tính đủ chi phí bỏ ra và bán công khai, minh bạch, chúng tôi nghĩ là không nên bán theo chỉ định.

Còn đối với trường hợp kiến nghị của dầu khí, luật đã quy định, nếu anh góp vốn vào, vì đây là công ty cổ phần, thì với trách nhiệm của mình theo luật DN thì anh cũng phải góp tương đối, nếu không góp được thì anh phải có giải pháp gì để hỗ trợ. Nhưng khi bỏ vốn vào, chúng ta phải quản lý được rủi ro đồng vốn bỏ ra. Có nghĩa là phải đánh giá được hiệu quả của nhà máy này sau khi bỏ thêm vốn vào mà hoạt động tốt thì chúng ta hãy bỏ vốn. Còn nếu bỏ vốn đơn thuần theo tính toán chưa cẩn thận thì không nên. Hay như với DN đóng tàu, chúng ta phải xem đầu ra có không, và khi đưa thêm vốn vào, nó hoạt động có ra lợi nhuận không, quan trọng nhất là có tạo ra cân bằng vốn không?

Tất cả những cái này trách nhiệm đầu tiên là DN, thứ hai là cơ quan chủ sở hữu, thứ ba là các cơ quan bộ, ngành trong đó có Bộ Tài chính.

Hiện nay chúng tôi đang quyết liệt yêu cầu Tập đoàn Hóa chất, Dầu khí báo cáo thật rõ, đánh giá lại toàn bộ các dự án này xem tính hiệu quả, khả năng hòa vốn ở đâu, có thể bán được sản phẩm không? Đây là một trong những vấn đề các tập đoàn còn đang lúng túng, bởi nếu tính đúng, tính đủ, thì sẽ ra những vấn đề chúng ta chưa phát hiện được.

Quan điểm của Bộ Tài chính là nếu có phương án hiệu quả và các bộ, ngành kiểm soát được hiệu quả đó thì không có lí do gì để chúng ta không đầu tư, không đưa ra các giải pháp hiệu quả hơn, ngay cả báo cáo Quốc hội cho phép bổ sung vốn Nhà nước để chúng ta đầu tư lại một DN có hiệu quả, khi hoạt động tốt rồi, chúng ta bán thu hồi về.

Ý kiến của hai vị khách mời về vấn đề này như thế nào?

Ông Phùng Văn Hùng: Cả 12 dự án hoạt động yếu kém của Bộ Công Thương thì Chính phủ đã chỉ đạo rốt ráo để bảo đảm kết quả tốt nhất. Nhưng 12 dự án DN này không thuộc chủ trương Nhà nước phải nắm giữ vốn. Với các DN đang gặp vướng mắc pháp lý với tổng thầu EPC, Nhà nước cần phải giải quyết trước khi thực hiện các giải pháp tiếp theo, trong đó có CPH và kể cả bán DN. Lúc này ta mới thu hút được các nhà đầu tư nhân có tiềm năng vào vực dậy các DN này.

Ông Lưu Bích Hồ: Bán cho ai, đương nhiên là phải bán cho tư nhân như anh Hùng nói. Nhưng nếu bán cho tư nhân nước ngoài thì phải tính toán tới lợi ích quốc gia. Và hết hết, bán cho ai cũng phải minh bạch.

Cá nhân tôi thấy tổng thể 12 dự án này đều là các dự án nhà máy cần thiết cho nền kinh tế, nên ta phải cố gắng khôi phục lại. Hiện nay tỷ suất lợi nhuận trên vốn nói chung của các DNNN là 4,4. Nếu nâng lên được 1% thì ta có thể tăng 0,7% lợi nhuận trên vốn. Nếu tăng 0,5% lợi nhuận DN thì tăng thêm được gần 1% GDP. Như vậy, hoàn toàn có triển vọng làm việc này để xử lý cho tốt. Có những chỗ phải cải tạo lại, ví dụ thép không nhất thiết làm như cũ mà làm mới với các sản phẩm mới phù hợp với kỹ thuật mới. Tôi cũng đồng tình dùng vốn của PVN để xử lý các dự án yếu kém của Tập đoàn này, nhưng vẫn phải là công khai minh bạch. Bộ Tài chính, Chính phủ cần làm rõ với Quốc hội các vấn đề pháp lý liên quan.

Ông  Đặng Quyết Tiến. 

 

CPH, thoái vốn là giải pháp quan trọng để đổi mới hoạt động của DNNN. Tới nay, hàng lang pháp lý cho CPH, thoái vốn được các nhà quản lý đã được chỉnh sửa, bổ sung hoàn thiện để đạt mục tiêu thay đổi quản trị của DNNN. Kế hoạch CPH, thoái vốn cho từng năm đã được xác định, số thu từ CPH cũng được ấn định cho kế hoạch tài chính trung hạn 5 năm. Tuy nhiên, tiến độ CPH vẫn chậm. Nguyên nhân là như thế nào?

Ông Phùng Văn Hùng: Chủ trương CPH, thoái vốn DNNN là chủ trương lớn Đảng, Nhà nước, được chỉ đạo xuyên suốt trong nhiều năm.

Những năm qua, chất lượng CPH đã nâng lên rất nhiều với các thương vụ lớn, minh bạch, gia tăng lợi ích của Nhà nước, nhưng tiến độ vẫn chậm so với kế hoạch của Chính phủ. Nguyên nhân là công việc đòi hỏi sự quyết tâm cao, không chỉ các cơ quan Nhà nước, mà của chính bộ máy các DN, người ta có sẵn sàng không? Đây là yếu tố rất quan trọng. Khi ta từ bỏ quyền hạn của mình với các DN thì trong thâm tâm tôi cho rằng còn luyến tiếc. Ta đã quyết liệt đấy, nhưng đã phê bình, kiểm điểm, khiển trách ai trong lĩnh vực này chưa? Ta phải kiểm điểm cái này.

Hay các DN lớn nắm vốn Nhà nước rất lớn, tham gia vào nhiều lĩnh vực, hoạt động cả một quá trình dài với nhiều mối quan hệ liên quan tới pháp lý, đất đai, nợ, quyết toán,… sẽ làm cho quy trình CPH bị ảnh hưởng? Đây là những vấn đề cần phải mổ xẻ và tìm cách xử lý cho từng cái.

Tiếp nữa, CPH rõ ràng các DNNN rất cần có sự vào cuộc đẩy nhanh tiến trình xây dựng Nghị định của Ủy ban Quản lý vốn Nhà nước đi vào hoạt động, để có đầu mối sớm hoàn thiện cơ chế để tiến hành CPH tốt hơn là để các bộ tự thực hiện. Tôi kỳ vọng vào Ủy ban Quản lý vốn Nhà nước lắm.

Nhưng liệu có nguyên nhân chủ quan là các bộ, địa phương chậm CPH, thoái vốn tại DNNN, hay như việc chậm chuyển giao quyền đại diện chủ sở hữu DNNN đã CPH về SCIC để duy trì số thu cho ngân sách địa phương trong bối cảnh ngân sách Trung ương cắt giảm, khoán chi thường xuyên hoặc áp tăng thu ngân sách cho địa phương?

Ông Phùng Văn Hùng: Tôi cho rằng nó là một nguyên nhân, nhưng không phải nguyên nhân căn bản.

Chủ trương của ta CPH là nâng cao năng lực hoạt động hiệu quả. Khi CPH xong thì mong muốn là DNNN hoạt động hiệu quả hơn thì đóng thuế nhiều hơn và ngân sách tốt hơn. Ta nhìn thấy Vinamilk, Nhựa Bình Minh, Sabeco chẳng hạn, đưa giá trị cổ phiếu lên rất cao, phản ánh đúng giá trị nguồn vốn – thương hiệu mà Nhà nước đã xây dựng. Hiệu quả hoạt động rõ ràng hơn, vốn DN dầy lên, sản xuất phát triển và đóng góp thuế tăng lên đó là ngân sách đấy chứ. Nên đây không phải là nguyên nhân căn bản.

Các vị khách nhìn nhận xu hướng CPH, thoái vốn Nhà nước trong thời gian tới với nhiều DNNN sở hữu nhiều lợi thế về nguồn lợi tự nhiên?

Ông Phùng Văn Hùng: Ở đây phải nói rằng những năm qua DNNN dựa quá nhiều vào các ưu đãi như nguồn vốn, đất đai. Nhiều khi không được quan tâm nhiều tới đầu tư sản xuất, quản lý hiệu quả để đẩy sản xuất phát triển. Điều đó dẫn tới khả năng cạnh tranh trong nước và quốc tế bị hạn chế. Nên các DNNN phải thấm các quan điểm DNNN không nên dựa vào các ưu đãi như trước đây, mà phải dựa vào chính nội lực của mình để cứu chính mình trước sự cạnh tranh mạnh mẽ của trong nước, nước ngoài trong một môi trường pháp lý chung mà bên nào cũng phải tuân thủ.

Ông Lưu Bích Hồ: Trong khối DNNN, các DN có quy mô lớn như một số DN ngành dầu khí, điện, Sabeco, Vinamilk chứ không phải quá nhiều. Tôi cho rằng không e ngại khi CPH, thoái vốn tại các DN này. Chỉ sợ DN không có sức hấp dẫn thôi. Vì nhiều DNNN hiệu quả thấp nhưng tài sản lớn là đất đai còn thiết bị máy móc thì vừa phải, thậm chí là lạc hậu rồi. Nên làm thế nào phải để các nhà đầu tư tin vào môi trường đầu tư kinh doanh sau này, CPH rồi mà họ vẫn làm ăn được. Vấn đề rất lớn là làm sao cho các nhà đầu tư ấy tin tưởng như những gì Chính phủ đang nỗ lực thực hiện.

Hiện nay ở giai đoạn khó khăn trong nước và đầu tư nước ngoài, nên ta phải cố gắng, phải hạn chế khó khăn về môi trường kinh doanh để đem lại khả năng cho các DN. CPH hay nhất, đúng đắn nhất là để có nhiều sở hữu khác để hiệu quả quản trị tăng lên rất nhanh.

Giờ ta không chần trừ được đâu. Có thể khi bán cổ phần bây giờ thì giá thế này thế kia, hay ta nuối tiếc chờ giá cao hơn, nhưng thời hạn quy định tới năm 2020 thì phải thực hiện đi. Càng kéo dài thì giá cổ phần giảm đi. Trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 thay đổi nhanh như hiện nay thì tác động rất lớn tới thương hiệu, hiệu quả sản xuất. Hiện nay ta đang chậm. Nếu ta không làm tốt thì rất khó mà thoát ra khỏi để tăng trưởng nhanh hơn, bền vững hơn.

Ông Đặng Quyết Tiến: Đúng là giờ Chính phủ và các bộ, ngành và người dân trông cậy vào khu vực Nhà nước hiệu quả, muốn vậy phải minh bạch thông tin để kêu gọi nhà đầu tư đích thực, gắn bó với sản xuát kinh doanh của DN. Ví dụ Vinamilk chỉ làm sữa, Sabeco chỉ làm bia nước giải khát chứ họ không làm bất động sản nên giá trị mới tốt, bền vững. Trước đây có sự nhập nhằng giữa các ngành nghề kinh doanh chính, các DNNN có vị thế đất đai ở vị trí tốt mà anh không làm gì thêm để gia tăng giá trị tài sản cả.

Do vậy, Chính phủ đã đi trước một bước, thể hiện tinh thần Chính phủ kiến tạo là bằng việc quy định các DNNN trước khi CPH phải sắp xếp lại tài sản đất đai, nếu không dùng hết đất thì chuyển giao lại đất cho địa phương để địa phương sử dụng việc khác, còn anh làm ngành nghề gì thì anh làm ngành nghề đấy. Đây là giải pháp đổi mới sát với thực tiễn, quy định ở Nghị định số 126 về sắp xếp đất đai và Nghị định số 32 của Chính phủ về thoái vốn.

DNNN sắp xếp xong đất đai đi thì hãy CPH, thoái vốn theo đúng lộ trình đặt ra. Trước đây là ta làm ào ào có bao nhiêu tài sản thì đưa luôn vào báo cáo để bán để tạo ra lợi thế giả tạo. DN cơ khí mà lấy đất đai của mình tạo ra giá trị gia tăng là không phải.

Khi Chính phủ đưa ra thông điệp như vậy và chuyển thành quy định pháp quy đúng là ý Đảng lòng dân. Rồi  mời cả các chuyên gia tư vấn quốc tế tư vấn về xử lý đất đai, để công khai minh bạch, nên các DN họ ngần ngừ, vì khi làm thế mà bỏ đất ra, thì hoạt động sản xuất kinh doanh thua lỗ, nên các lãnh đạo DN cũng chần chừ, cũng lo lắng.

Ngoài ra, ý của anh Hùng nói thì bản thân họ cũng luyến tiếc và các bộ, ngành không quyết liệt, vì họ ngại làm các thủ tục đất đai. Nhưng quyết liệt thì vẫn được. Hà Nội làm được vì họ có quyết tâm, sắp xếp hàng nghìn mảnh đất lớn nhỏ trước khi CPH Hapro và thu hồi được nhiều diện tích đất không sử dụng sau khi CPH để thu hút đầu tư của các thành phần kinh tế khác vào đây. Nên ở đây quan trọng nhất là trách nhiệm của người đứng đầu, đổi mới mới tư duy, công khai minh bạch và nhà đầu tư nước ngoài họ nhìn vào tiềm năng thì mới đầu tư, vì tiềm năng chứ không phải vì đất. Thứ hai quy định như vậy làm cho minh bạch được đường hướng của DN trong thời gian tới.

Còn về ý kiến của một số chuyên gia tài chính cho rằng Nhà nước không nên chỉ tập trung vào lợi ích thu về mà cũng nên quan tâm tới việc lựa chọn được các nhà đầu tư có chất lượng, gắn bó với DN. Các ông nhìn nhận gì về các quan điểm này?

Ông Đặng Quyết Tiến: CPH thì để thu hút công nghệ quản trị mới. Với các DNNN mà Nhà nước vẫn nắm giữ thì ta thu hút, nhưng phải kêu gọi công nghệ mới, vì vậy phải tìm được cổ đông đi cùng mình về công nghệ quản lý cho ngành tốt hơn.

Trong trong 12 dự án thua lỗ đều là các dự án trọng điểm có các nhà đầu tư muốn vào. Ví dụ thép, thì Hoà Phát rất muốn vào, nhưng họ yêu cầu phải tính đúng, tính đủ giá vốn, công khai minh bạch. Họ sẵn sàng đấu giá, chứ không thể trông cậy vào Khu gang thép Thái Nguyên đất đai rộng để làm bất động sản.

Khi CPH Nhà nước đều có mục tiêu nhất định là phục vụ cộng đồng, chứ không phải là để biến tướng đi. Nếu biến tướng (chuyển đổi mục đích sử dụng đất) thì anh thực hiện theo đúng quy định của pháp luật: Đấu giá đất, nộp thuế đầy đủ, đúng giá trị cho Nhà nước. Các nhà đầu tư chân chính thì ta quy định rồi, nếu cam kết thì sẵn sàng có nhà đầu tư trong và ngoài nước họ sẵn sàng vào và quản trị tốt hơn nhiều. Chúng ta không chú trọng tạo điều kiện cho các nhà đầu tư cơ hội, khai thác lợi thế không phải ngành nghề chính của DN, không có giá trị gia tăng cao.

Ông Phùng Văn Hùng: Chủ trương rà soát đất đai của DNNN trước CPH là giải pháp quan trọng đúng đắn. Thời gian trước có trường hợp làm chưa chặt chẽ đã ảnh hưởng thất thoát tài sản Nhà nước. Giờ làm rõ rồi, đất đấy tham gia ra sao trong quá trình CPH vào hoạt động của DN trên cơ sở công khai minh bạch, định giá đúng thị trường như chúng ta mong muốn để nhà đầu tư sẵn sàng bỏ tiền vào. Ngoài ra, Nhà nước tạo thuận lợi cho các nhà dầu tư sẵn sàng bỏ vốn nào theo quy định của thị trường và cam kết hội nhập của kinh tế Việt Nam.

Ông Lưu Bích Hồ: Đất đai là đại sự. Đúng là trước đây nó không vào túi của Nhà nước, mà nhiều khi bị chia đi chỗ khác. DNNN quản lý đất đai đó nên phải chuyển về Nhà nước. Việc công khai minh bạch là quan trọng để không đáng ngại gì cả.

Sắp tới Quốc hội cũng nên xem xét lại quy định chuyển quyền sử dụng mục đích đất cho linh hoạt hơn. Giờ có những khu đất tồn tại quy định mục đích sử dụng mấy chục năm rồi mà giờ thời đại công nghệ 4.0, vòng đời sản phẩm, chu trì kinh doanh ngắn lại rất nhiều nên không thể kinh doanh mãi 1 loại sản phẩm được, gây khó cho các DN. Ta nên quy hoạch lại ở khu vực nào thì kinh doanh ngành nghề gì cho hợp lý, để không gây ô nhiễm, ảnh hưởng tới không gian sống. Chính phủ cũng cần tính tới các loại cổ phần rộng rãi hơn để người dân tham gia đóng góp vào nhiều hơn, chứ không chỉ là các nhà đầu tư chiến lược nước ngoài. Nếu không thì tôi cho rằng nền kinh tế của chúng ta khó tự chủ được.

Ông Lưu Bích Hồ. 

 

Nhìn vào các thương vụ CPH, thoái vốn thành công vừa qua, ông đánh giá thế nào về năng lực quản trị của DN sau CPH, thoái vốn thành công?

Ông Đặng Quyết Tiến: Bản thân DN sau khi CPH, thoái vốn thì năng lực quản trị rất tốt, như Vinamilk chẳng hạn. Những DN khác thì các nhà đầu tư cũng mang các nguyên tắc quản trị của thị trường vào, bảo đảm công khai minh bạch và quan trọng nhất là các vấn đề được xử lý theo thị trường. Tất nhiên đây là các DN lớn được các nhà đầu tư quan tâm, được thị trường giám sát.

Nhưng về quản trị sau CPH thì rất nhiều DN không làm tốt được, vẫn bình mới rượu cũ thôi. Nên ta phải thúc đẩy các DN sau CPH phải lên thị trường chứng khoán để cộng đồng các nhà đầu tư, Nhà nước và xã hội giám sát thì họ phải hoạt động hiệu quả hơn. Chính phủ phải quyết liệt và DNNN phải đi đầu để nhận sự hỗ trợ theo quy luật của thị trường. Ủy ban Chứng khoán Nhà nước đang thiết kế các tiêu chuẩn quản trị theo đúng yêu cầu của quốc tế.

Tuân thủ các báo cáo thông tin của các DNNN và chủ sở hữu DNNN (theo Nghị định số 81/2015/NĐ-CP), đáp ứng các yêu cầu minh bạch hoạt động của DNNN đã CPH thông qua niêm yết trên thị trường chứng khoán là giải pháp quan trọng của Chính phủ để bắt buộc các DN phải hoạt động thực chất. Nhưng nhiều DN CPH xong lại không niêm yết. Hệ luỵ của việc này, ông đánh giá sẽ như thế nào?

Ông Phùng Văn Hùng: Việc bắt buộc DNNN sau cổ phần phải niêm yết trên thị trường chứng khoán là quan trọng. Khi đã niêm yết thì tính công khai minh bạch được nhấn mạnh. Trên thị trường chứng khoán thì sức khoẻ của DN được đo đếm công khai giám sát bởi các cơ quan Nhà nước, bởi các tổ chức kinh tế, người dân theo dõi trên thị trường chứng khoán để có thể đầu tư hoặc không đầu tư vào DN đó. Đây là kinh nghiệm của thế giới mà ta hội nhập thì phải tuân thủ. Nhưng nhiều DN không muốn niêm yết thì nó không bình thường. Họ muốn việc trao đổi mua bán cổ phiếu có khi họ không muốn công khai, chỉ muốn làm trong 1 nhóm thì đây là việc Chính phủ cần phải xem xét từng DN không niêm yết để có giải pháp kịp thời, để các DN phải tuân thủ các quy định nguyên tắc thị trường mà Chính phủ đã đề ra.

Chế tài đối với DNNN sau CPH mà chậm IPO đang là như thế nào thưa ông? Phải chăng còn quá nhẹ, không tác động tới lãnh đạo DN. 2 năm qua số lượng DN kiểu này vẫn lên tới 300 DN, đồng nghĩa với việc thông tin cho các nhà đầu tư là không có. Bộ Tài chính cũng thúc giục rất nhiều lần. Vậy nguyên nhân tại sao và phải làm thế nào để cơ chế này là tự giác?

Ông Đặng Quyết Tiến: Trước đây ta khuyến khích các DN đủ điều kiện thì phải đăng ký giao dịch trên thị trường chứng khoán. Nhưng như anh Hùng nói thì nhiều DN trốn tránh, nên Chính phủ đã sửa quy định phải yêu cầu bắt buộc. Nên người dại diện vốn Nhà nước ở DN do Nhà nước chi phối phải chịu trách nhiệm trước pháp luật. Tuy nhiên, vấn đề niêm yết thị trường chứng khoán thì phải gắn liền với điều kiện của thị trường. Còn đăng ký giao dịch thì không ràng buộc kỹ, không chặt chẽ, nhưng các DN sau CPH phải đăng ký giao dịch để quản lý, sau bao lâu anh đủ điều kiện rồi mà không lên niêm yết thì chúng tôi sẽ xử lý thông qua người đại diện. Khi đăng ký giao dịch thì qua Ủy ban Chứng khoán Nhà nước sẽ hỗ trợ quản trị, dùng các quy định của thị trường, quyền lợi các cổ động yêu cầu các công ty đại chúng đủ điều kiện phải niệm yết vì có 2 vấn đề: Khi niêm yết thì tính thanh khoản cao người ta có thể mua bán dễ và DN huy động được vốn, các nhà đầu tư khác có thể tham gia.

Vừa qua Bộ Tài chính cũng rà soát lại, tính tới thời điểm ban hành Nghị định số 126 thì có hơn 700 DNNN sau CPH chưa niêm yết. Phân loại ra thì có gần 300 DN đã đăng ký công ty đại chúng, trong đó có gần 200 DN đăng ký giao dịch và niêm yết. Vẫn còn DN qua kiểm tra hiệu quả hoạt động kém quả, không đủ điều kiện là công ty đại chúng vì cổ đông không đủ theo quy định của pháp luật thì chúng tôi làm thủ tục để họ là công ty cổ phần bình thường. Những DN mà không thể niêm yết thì hỗ trợ cho hạ xuống để tiếp tục theo dõi nếu đủ điều kiện thì lại đưa lên sàn. Những DN nào trốn tránh thì chúng tôi sẽ xử phạt hành chính. Tới đây sẽ rà soát tiếp.

Chúng tôi cũng đề nghị cơ quan chủ sở hữu phải có những hình thức xử lý hành chính nếu cố tình không lên sàn khi đã đủ điều kiện. Chúng tôi cũng công bố công khai để công luận giám sát. Đây là giải pháp công khai minh bạch chúng tôi sẽ kiên trì thực hiện để kiến nghị Thủ tướng tại Hội nghị với DNNN sắp tới.

Mới đây, khi IPO 3 DN lớn của Tập đoàn Dầu khí PVN là PVPower, PVOil và Lọc hoá dầu Bình Sơn BRS, chỉ sau 3 tháng, các DN này đã niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Upcom và đang thực hiện kế hoạch niêm yết trên sàn cơ sở HOSE. Hay nhiều DN lớn khác đã thực hiện như vậy và tình hình sản xuất kinh doanh ngày càng phát triển. Nhưng cũng như vậy mà trước đây, Sabeco, sau 8 năm CPH vẫn không lên sàn chứng khoán. Ông có bình luận gì thêm về những diễn biến này?

Chuyên gia Lưu Bích Hồ: DN trong nền kinh tế thị trường dứt khoát phải minh bạch, phải lên sàn. Thực tế điều này cũng có các DN không hiểu hết, mà chủ yếu vẫn huy động vốn qua hệ thống ngân hang. Ở các nước phát triển thì huy động qua ngân hàng chỉ là 1 kênh, không phải là chủ yếu mà chủ yếu phải huy động qua thị trường chứng khoán, đóng góp còn hạn chế, phải làm sao mạnh lên là kênh huy động chủ yếu của DN.

Tôi thấy mừng vì nhiều DN CPH xong thời gian ngắn niêm yết phát huy cần khuyến khích thúc đẩy. Riêng với trường hợp Sabeco, theo tôi DN này quá thuận lợi, không cần huy động vốn trên thị trường chứng khoán, nếu cần đưa lên huy động thị trường chứng khoán cũng khá đơn giản. Có thể mấy năm qua, DN có một số vướng mắc khác, ví dụ như sắp xếp nhân sự, nhưng tôi tin rằng không vấn đề gì.

Ông Đặng Quyết Tiến: Qua rà soát Chính phủ đã đưa thành quy định tối đa một năm rưỡi sau IPO thì DNNN phải lên đăng ký giao dịch. Do đó, nhiều DN làm hồ sơ IPO xong cũng có thể đăng ký giao dịch trên sàn Upcom ngay…

Như vậy, đó là quy định bắt buộc. Trước đây có hơn 700 DN CPH chưa lên sàn, chúng tôi đa từng công bố các DN này và tiếp tục đôn đốc đủ điều kiện không lên thì phải xử lý. Còn nếu không đủ điều kiện thì công bố luôn không đủ, không là công ty đại chúng, mà chỉ là  thành công ty tư nhân, hay trách nhiệm hữu hạn 1, 2 thành viên để công chúng biết.

Theo tôi, quan trọng là trong các phương án CPH đều đặt vấn đề công khai minh bạch lên hang đầu, thực hiện đúng các quy định về công khai tại Nghị định 81, 87, đó là việc thường xuyên.

Ngay cả khi chưa CPH, các nhà đầu tư phải quan tâm vấn đề này, công khai minh bạch thì khi CPH mới nhận được khoản đầu tư giá hợp lý và huy động vốn thị trường chứng khoán lâu dài sẽ rẻ hơn vay vốn thương mại, đây là kênh huy động quan trọng bền vững cho DN.

Tình trạng thông tin mập mờ, không tuân thủ các quy định của Chính phủ trong minh bạch hoạt động sẽ được khắc phục khi Ủy ban Quản lý vốn Nhà nước tại DN ra đời- làm chức năng thống nhất đại diện chủ sở hữu của 19 DN, tập đoàn lớn- trong đó có cả SCIC- cánh tay nối dài của Ủy ban trong đại diện vốn, quản trị tại các DNNN khác? Ông cho rằng Ủy ban cần phải có những quyền hạn như thế nào để có “uy” với các DNNN khác trong tuân thủ pháp luật?

Ông Lưu Bích Hồ: Ủy ban phải tập trung vào quản lý được vốn, không đá bóng vừa thổi còi như một số bộ, ngành trước đây. Giao quyền là quan trọng, nhưng khi có quyền phải thực hiện cho tốt, làm đúng, rõ ràng minh bạch, uy tín, thì mới có uy chứ không chỉ có quyền.

Với tầm mức Ủy ban thuộc Chính phủ, “siêu Ủy ban” quản lý hơn 2 triệu tỷ đồng vốn Nhà nước ở DN, theo tôi giai đoạn đầu thì Chính phủ, hay lãnh đạo Chính phủ, Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ trực tiếp chỉ đạo, cần hỗ trợ mạnh thực hiện đúng.

Về minh bạch, thông tin mập mờ không làm đúng quy định là căn bệnh cố hữu của DNNN, lần này nếu không minh bạch, cải cách quản trị không thành công. Mong Hội nghị sắp tới cố làm sao thay đổi hẳn tư duy cung cách làm ăn thì tình hình kinh tế mới luôn phát triển được, có hiệu qủa phát triển bền vững.

 

Với dự thảo mới nhất về vận hành của Ủy ban Quản lý vốn Nhà nước, ông quan tâm nhất tới điều gì để Ủy ban này hoạt động hiệu quả?

Ông Phùng Văn Hùng: Khi lập Ủy ban Quản lý vốn Nhà nước quản lý lượng vốn lớn của các tập đoàn của Nhà nước, mục đích đặt ra là khắc phục tình trạng vừa đá vừa thổi còi (trước đây, dư luận kêu các bộ, ngành vừa ban hành chính sách lại vừa quản lý DN). Mục đích tiếp theo là quan trọng làm sao quản lý và sử dụng vốn Nhà nước hiệu quả. Vì thế dự thảo giao chức năng quan trọng cho Ủy ban, bảo đảm an toàn, khối lượng tài sản lớn của Nhà nước.

Trong quy định chức năng nhiệm vụ Ủy ban cần bảo đảm tính chủ động của Ủy ban. Nếu không tạo cơ chế để Ủy ban chủ động, chịu trách nhiệm thì khó. Cần quy định trách nhiệm rõ ràng, giao quyền phù hợp.

Tôi mừng vì dự thảo Nghị quyết của Chính phủ có đưa SCIC về Ủy ban này, quản lý vốn, dùng vốn đó sản xuất kinh doanh đầu tư hiệu quả, chứ không phải cho vào két. SCIC về Ủy ban là đúng đắn, nhưng làm sao để phát huy được vai trò SCIC mà vẫn bảo đảm tính thống nhất của Ủy ban. Phải hiểu đặt SCIC là công cụ giúp Ủy ban trong đầu tư và kinh doanh vốn hiệu quả. Cần tạo tổ chức thống nhất, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn Nhà nước.

Dự thảo vẫn giao SCIC đại diện chủ sở hữu các DN chuyển giao từ các bộ, ngành. Ủy ban đại diện các DN chủ sở hữu, trong Ủy ban có đại diện chủ sở hữu khác. Như vậy, tôi băn khoăn liệu chúng ta có tạo nên “nhà nước nhỏ trong một nhà nước lớn”, trách nhiệm SCIC với việc chung thế nào, vai trò Ủy ban với các DN mà SCIC đại diện chủ sở hữu thế nào, đây là vấn đề cần rõ ràng minh bạch để Ủy ban hoạt động tốt, SCIC phát huy tác dụng hiệu quả.

Ông Lưu Bích Hồ: Các chuyên gia e ngại thành công của Ủy ban, nhưng tôi cho rằng cái gì cũng phải làm mới thành công như Singapore, Trung Quốc…đã làm tốt. Còn nếu ngồi đó sợ thì khó. Do đó, việc lập đơn vị thống nhất quản lý sẽ hợp lý hơn việc nhiều bộ trưởng làm tốt.

Hai là các bộ và Bộ Tài chính sẽ giúp, hỗ trợ Ủy ban làm tốt hơn phần này, như thế có lợi không có hại gì tới các bộ, ngành. Cần có tư duy thấu đáo, tránh tình trạng không phối hợp thống nhất kéo dài. Lúc này chúng ta phải ủng hộ Ủy ban. Tôi tin 2 năm nữa mới thực hiện tốt CPH quản trị tốt lên phát huy vai trò Nhà nước.

Ông Đặng Quyết Tiến: Ủy ban khi ra đời các cơ chế chính sách ban hành đủ khuôn khổ pháp lý. Uỷ ban thực hiện quy định công khai thông tin, đại diện chủ sở hữu yêu cầu DN làm không xử lý luôn ko cần ý kiến bộ ngành.

Về SCIC tập trung cùng 19 tập đoàn, toàn bộ các anh cả đỏ, Ủy ban này quản lý các đơn vị lớn như điện, than, dầu khí. SCIC như anh Hùng nói là công cụ Ủy ban để đầu tư và kinh doanh vốn, 18 còn lại thiếu nguồn, SCIC có nhiều vụ cấp nguồn vốn mồi. Nếu không thống nhất về 1 mối, thì có thể SCIC đầu tư vào điện  trong khi ngành điện cũng làm hết rồi dẫn đến trùng nhau. SCIC là ông đưa ra vốn mồi, chịu trách nhiệm quản trị dự án, chịu trách nhiệm trước Uỷ ban. SCIC là người giúp Ủy ban, Chính phủ, tiếp nhận các DN còn lại tiếp nhận vốn Nhà nước về không thuộc 19 tập đoàn lớn của Nhà nước. SCIC có trách nhiệm thoái vốn, SCIC có kinh nghiệm thoái vốn và đạt nhiều quả tốt trong thoái vốn DNNN.

Hơn nữa, đây là là DN có nguồn lực thuê chuyên gia tốt, chịu trách nhiệm cao, làm tốt hơn so với các bộ ngành, cứ vướng lại phải chờ xin ý kiến Chính phủ. Còn nếu DN không làm thì vì chính lợi ích của mình trước, nếu không làm được thì chịu lương thấp, làm tốt làm đúng quy trình. Hiện SCIC cũng đã có quy trình thoái vốn đúng minh bạch hiệu quả hơn. SCIC cũng sẽ giúp Ủy ban không phải lo thêm việc thoái DN nhỏ, mà chỉ tập trung quản lý 19 tập đoàn lớn, làm sao Ủy ban nguồn lực không chồng chéo, phát huy huy SCIC…

Tới đây, tôi cho rằng Ủy ban cần hệ thống cơ sở dữ liệu áp dụng CNTT quản lý 18 DN mới nắm bắt thông tin, công khai minh bạch, xử lý dễ. Nếu con người làm thì xử lý tình du di, còn làm máy làm tốt xấu không thể sai, máy làm thì cứ đúng là chạy ra hết, như thế công bằng hơn.

Các Nghị quyết số 19 và 35 của Chính phủ trong nhiều năm liền, cùng với đó là 2 lần tổ chức Hội nghị Thủ tướng Chính phủ với DN nói chung, Nghị quyết của Trung ương về kinh tư nhân đã tác động mạnh mẽ tới sự phát triển của khối tư nhân trong thời gian ngắn qua. Vậy với Hội nghị Thủ tướng- DNNN lần này, có thể coi như là một Hội nghị lớn có tác dụng như thế nào đối với việc phát triển khối này là nòng cốt của kinh tế nhà nước, sử dụng hiệu quả nguồn lực mà khối này đang nắm giữ?

Ông Đặng Quyết Tiến: Đây là hội nghị chuyên đề riêng về kinh tế Nhà nước. Hội nghị này Chính phủ ra thông điệp là các DN cần quán triệt đúng Nghị quyết Trung ương 5.

Cơ cấu lại, đổi mới DNNN giai đoạn 2017- 2020 trên cơ sở các tiêu chí phân loại DNNN, DN có vốn Nhà nước thuộc các ngành, lĩnh vực. Phấn đấu hoàn thành thoái vốn tại các DN mà Nhà nước không cần nắm giữ, tham gia góp vốn.

DN chỉ làm cái Nhà nước cần, an sinh xã hội, quan trọng là tiếp theo đẩy nhanh sắp xếp đổi mới thoái vốn, 1 trong những mục tiêu giải phóng nguồn lực cho các thành phần kinh tế khác, đặc biệt là DN tư nhân thiếu các yếu tố sản xuất, đất đai tiếp cận vốn, do đó, DNNN co lại giúp thị phần DN tư nhân phát triển hơn.

Càng để các dân doanh làm nhiều thì nền kinh tế có nhiều cơ hội phát triển, DNNN chỉ dẫn dắt trong 1 giai đoạn, về sau làm được cần mạnh dạn trao lại tư nhân, Chính phủ  sẽ bàn về thêm vấn đề này. Cần bảo đảm thúc đẩy quốc gia khởi nghiệp vần thu hẹp DNNN.

Theo Chinhphu