Thứ ba,  17/09/2019

Hoàn thiện chuỗi liên kết trong chăn nuôi

Trong những năm qua, mặc dù gặp không ít khó khăn bởi dịch bệnh, giá sản phẩm trồi sụt, song ngành chăn nuôi nước ta vẫn duy trì được đà tăng trưởng; năng suất, chất lượng sản phẩm ngày càng được nâng lên. Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực, vẫn còn một số thách thức như: kết nối sản xuất và thị trường chưa tốt, sản lượng xuất khẩu còn hạn chế… Để gỡ “nút thắt” này, việc phát triển chăn nuôi theo chuỗi liên kết từ sản xuất, chế biến đến tiêu thụ sẽ là hướng đi tất yếu trong thời gian tới.

Hoàn thiện chuỗi liên kết trong chăn nuôi

Sản xuất thịt gà xuất khẩu tại Công ty TNHH Koyu & Unitek (Khu công nghiệp Loteco, TP Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai). 

 

Tăng lượng và chất

Theo Cục Chăn nuôi (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn). Thời gian qua, tốc độ tăng trưởng ngành chăn nuôi luôn ở mức cao, từ 5 đến 6%/năm. Tính từ năm 2005 đến nay, sản lượng thịt các loại tăng hơn ba lần (từ 1,6 triệu tấn lên 5,36 triệu tấn), trứng tăng 3,9 lần (từ 3 tỷ quả lên 11,8 tỷ quả), sữa tăng 18,6 lần (từ 51,5 nghìn tấn lên gần 960 nghìn tấn). Ngành chăn nuôi đã có chuyển biến rõ nét trong tổ chức sản xuất theo hướng công nghiệp và bán công nghiệp, trang trại theo chuỗi. Bước đầu hình thành các chuỗi liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm chăn nuôi (SPCN). Chuyển hướng từ tăng sản lượng sang tăng chất lượng, hiệu quả và giá trị gia tăng cho các ngành hàng…

Kết quả đạt được do chúng ta ứng dụng nhanh những tiến bộ khoa học – công nghệ tiên tiến cả về con giống và trang thiết bị. Nhờ làm chủ công nghệ sản xuất con giống bố mẹ trong nước, đồng thời chọn lọc, tạo ra được một số dòng có năng suất và chất lượng tốt cho nên các giống gia cầm phát huy mạnh trong sản xuất, trở thành nguồn thu nhập lớn cho người chăn nuôi. Nhiều doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực này một cách bài bản cùng với cách làm căn cơ đã cho ra sản phẩm có lợi thế, tham gia xuất khẩu đi một số nước. Điển hình như: Công ty TNHH Koyu & Unitek (Đồng Nai) xuất khẩu thịt gà sang Nhật Bản từ tháng 9-2017, năm 2018 đạt gần 8.000 tấn. Masan Nutri – Science (MNS), công ty con của Tập đoàn Masan, đầu tư xây dựng tổ hợp chế biến thịt lợn với số vốn hơn 1.000 tỷ đồng trên diện tích 10 ha tại Khu công nghiệp Ðồng Văn IV (Hà Nam), hoạt động từ tháng 12-2018, công suất chế biến lên tới 1,4 triệu con lợn/năm, tích hợp hoàn toàn chuỗi giá trị thịt, gồm: Sản xuất thức ăn chăn nuôi theo tiêu chuẩn GlobalGAP – Trang trại nuôi lợn kỹ thuật cao GlobalGAP – Dây chuyền công nghệ chế biến thịt đạt tiêu chuẩn châu Âu. Theo đại diện Tập đoàn Masan, sản lượng thịt an toàn nhãn hiệu Meat Deli của doanh nghiệp đã tăng gấp hai lần trong thời gian qua. Hợp tác xã (HTX) chăn nuôi và thủy sản Gò Công (Tiền Giang) được thành lập ngày 13-4-2007, tổng vốn đầu tư 13.700 triệu đồng, với các sản phẩm lợn, gà, vịt, sản xuất theo quy trình an toàn theo chuỗi, truy xuất được nguồn gốc và bao tiêu toàn bộ sản phẩm, chất lượng thịt phù hợp thị hiếu người tiêu dùng. HTX Chăn nuôi và Dịch vụ Cổ Đông (Sơn Tây, Hà Nội) liên kết nhiều hộ chăn nuôi cùng mua giống, thức ăn, lập quỹ hỗ trợ cho vay vốn trong hợp tác xã và xuất bán sản phẩm, tham gia quảng bá, xây dựng thương hiệu tại các hội chợ…

Vẫn còn nhiều bất cập

Nhiều ý kiến cho rằng, thời gian qua, ngành chăn nuôi Việt Nam đã có chuyển biến đáng kể, các trang trại bắt đầu ứng dụng mạnh công nghệ vào sản xuất, chế biến, có sự liên kết giữa sản xuất và tiêu thụ. Song vẫn còn nhiều bất cập như: Chưa có cơ chế, chính sách riêng cho việc xây dựng và phát triển các chuỗi liên kết chăn nuôi – tiêu thụ sản phẩm, là “rào cản” ảnh hưởng đến các hoạt động cần kinh phí để triển khai xây dựng chuỗi liên kết. Một số doanh nghiệp chưa thật sự quan tâm và chia sẻ lợi ích với người chăn nuôi, khiến mối liên kết thiếu tính bền vững. Sản xuất còn thiếu ổn định về cung – cầu, thị trường sản phẩm tiêu thụ bấp bênh. Việc thống kê trong chăn nuôi còn thiếu chính xác, chưa phù hợp so với thực tế. Chi phí sản xuất lớn hơn các quốc gia trong khu vực và trên thế giới, khó cạnh tranh với SPCN của các nước. Việc tiếp cận các nguồn thông tin thị trường còn hạn chế, tiêu thụ sản phẩm phải qua nhiều khâu trung gian đẩy giá bán lên cao, mặt khác người sản xuất còn bị tư thương ép giá bán. Việc khai thác thị trường trong nước và quốc tế còn yếu, nhất là thị trường xuất khẩu. Chưa xây dựng và thực hiện được quy trình sản xuất an toàn dịch bệnh, bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm. 50 vùng sản xuất an toàn dịch bệnh là quá ít, chưa thể đáp ứng việc xây dựng chuỗi liên kết an toàn thực phẩm, nâng cao giá trị cho SPCN của Việt Nam. Chưa xây dựng được chuỗi giá trị bình ổn thị trường có thể hài hòa lợi ích giữa người chăn nuôi, doanh nghiệp và người tiêu dùng. Chăn nuôi an toàn có nguồn gốc đang phải cạnh tranh hết sức khó khăn với các sản phẩm không bảo đảm chất lượng, không rõ nguồn gốc xuất hiện tràn lan trên thị trường, do vậy sản lượng tiêu thụ còn thấp, chưa tạo ra hiệu quả kinh tế như yêu cầu đặt ra.

Phát triển các hình thức liên kết

Theo Phó Cục trưởng Cục Chăn nuôi Nguyễn Văn Trọng, tiềm năng của ngành chăn nuôi nước ta hiện nay rất lớn, có cả cơ hội và thách thức. Để phát triển bền vững trong thời gian tới, cần thực hiện đồng bộ các giải pháp: Rà soát, điều chỉnh chiến lược phát triển chăn nuôi và điều chỉnh quy mô đàn vật nuôi phù hợp nhu cầu thị trường. Tập trung tăng cường quản lý quy hoạch, giống, thức ăn và môi trường chăn nuôi. Dành quỹ đất quy hoạch các khu chăn nuôi tập trung, kéo dài thời gian cho thuê đất để người chăn nuôi có điều kiện đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng. Phát triển theo hướng chăn nuôi công nghiệp, chăn thả có kiểm soát, áp dụng tiến bộ kỹ thuật, an toàn sinh học, giảm ô nhiễm môi trường, tạo điều kiện thuận lợi cho chăn nuôi hội nhập quốc tế, phục vụ xuất khẩu. Hoàn thiện tiếp chuỗi liên kết trong chăn nuôi, cần xây dựng thương hiệu cho các chuỗi liên kết có chất lượng cao, đủ điều kiện xuất khẩu sang các thị trường khó tính. Đồng thời từng bước cơ cấu lại chăn nuôi nhỏ lẻ theo hướng có kiểm soát và giảm dần tỷ trọng, chuyển dần sang chăn nuôi trang trại. Tổ chức liên kết theo chuỗi sản phẩm từ khâu sản xuất đến thị trường, trong đó các doanh nghiệp đóng vai trò trung tâm để liên kết với các tổ chức sản xuất như tổ hợp tác, HTX, hội, hiệp hội ngành hàng. Xây dựng mô hình chăn nuôi an toàn dịch bệnh gắn với vùng nguyên liệu, liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị, truy xuất nguồn gốc; có quy trình chuyển giao công nghệ, tiến bộ kỹ thuật chăn nuôi theo chuỗi sản phẩm từ khâu sản xuất giống, chế biến thức ăn, bảo quản, đến tiêu thụ sản phẩm cho người chăn nuôi. Áp dụng công nghệ sinh học trong việc chế biến thức ăn để tăng hiệu quả sử dụng…, góp phần nâng cao giá trị sản xuất chăn nuôi nói riêng và tổng giá trị sản phẩm nông nghiệp nói chung.

Dư địa phát triển ngành chăn nuôi gia cầm còn tốt, do vậy thúc đẩy sản xuất gia cầm phải theo quy hoạch, không phát triển tràn lan. Muốn bảo đảm hiệu quả bền vững, cần chú ý tất cả các khâu trong chuỗi liên kết từ con giống, quy trình, tổ chức sản xuất, kiểm soát dịch bệnh và tổ chức thị trường…, làm sao khai thác tốt lợi thế của ngành hàng gia cầm nói riêng và chăn nuôi nói chung. Chú trọng chăn nuôi an toàn sinh học, tránh để phát sinh dịch bệnh trên gia cầm. Với từng quy mô ngành hàng phải định dạng được thị trường, tránh lặp lại tình trạng cung vượt cầu.

NGUYỄN XUÂN CƯỜNG Bộ trưởng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

Theo Nhandan