Thứ sáu,  25/09/2020

Tăng tỷ lệ nợ công thêm từ 2-3% GDP: Áp lực vay nợ mới để trả nợ cũ

Theo đại diện Bộ Tài chính, việc tăng vay vốn thêm 2-3% GDP vẫn nằm trong giới hạn được Quốc hội cho phép nhưng cũng sẽ là thách thức không nhỏ.

Áp lực trả nợ đang ngày càng lớn lên

Trao đổi với báo chí về những biến động của tình hình nợ công trong thời gian qua, ông Võ Hữu Hiển, Phó Cục trưởng Cục Quản lý nợ và Tài chính đối ngoại (Bộ Tài chính) cho biết, thời gian qua, nợ công so với GDP đã giảm mạnh từ 63,7% năm 2016 xuống khoảng 55% cuối năm 2019. Trong bối cảnh đại dịch Covid-19, Bộ Tài chính dự kiến nợ công có thể lên khoảng 57-58% GDP vào cuối năm 2020.

“So với mức trần Quốc hội cho phép là 65% GDP thì áp lực gánh nặng nợ công rõ ràng đã giảm đi rất nhiều. Đây chính là dư địa tài khóa giúp nền kinh tế chống chọi được những cú sốc như đại dịch Covid-19 mà không gây ra bất ổn vĩ mô, tài chính – ngân sách và bền vững nợ công”, ông Võ Hữu Hiển nói.

tang ty le no cong them tu 2-3% gdp: ap luc vay no moi de tra no cu hinh 1
Áp lực trả nợ đang ngày càng lớn (Ảnh minh họa: KT)

 

Về áp lực của các khoản nợ đến hạn của Chính phủ Việt Nam trong giai đoạn tới, đại diện Cục Quản lý nợ và Tài chính đối ngoại nhận định, gánh nặng nợ so với GDP đã giảm so với những năm đầu giai đoạn, xu hướng giảm nợ công một phần phản ánh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công, trong đó có vốn vay ODA, vay ưu đãi nước ngoài rất chậm. Điều này đã hạn chế đóng góp cho tăng trưởng từ nguồn vốn vay, mặt khác ngân sách vẫn phải chịu chi phí cam kết đối với các khoản vay đã ký kết và chưa giải ngân. Do đó, áp lực trả nợ đang ngày càng lớn lên.

Đến nay, Việt Nam đã thành nước thu nhập trung bình, do đó, Việt Nam không còn được vay ưu đãi với lãi suất thấp, ngược lại sẽ phải vay thương mại với lãi suất cao hơn, kỳ hạn rút ngắn lại đáng kể so với thời kỳ trước, tiệm cận với điều kiện thị trường. Nghĩa vụ trả nợ trực tiếp của Chính phủ so với thu ngân sách nhà nước năm 2019 ước khoảng gần 18%, cao hơn khá nhiều so với mức 15,8% cuối năm 2016.

Mặt khác, trong năm 2020, khả năng thu ngân sách nhà nước không đạt mục tiêu đặt ra sẽ gây áp lực lên chỉ tiêu nghĩa vụ trả nợ so với thu ngân sách nhà nước vốn đang có xu hướng tăng lên trong những năm gần đây, tiến rất sát ngưỡng 25% được Quốc hội cho phép trong giai đoạn 2016-2020.

“Điều này một mặt dẫn đến tình trạng dư địa ngân sách cho các khoản chi đầu tư phát triển, chi thường xuyên sẽ giảm mạnh, mặt khác việc thu xếp nguồn tiền để trả nợ là điều không thể xem nhẹ, nhất là khi nhiều năm nay, chúng ta vẫn phải vay nợ mới để trả nợ cũ”, ông Hiển chỉ rõ.

Thách thức không nhỏ

Trước tác động của dịch Covid-19, Thủ tướng Chính phủ đã có chủ trương có thể xem xét tăng tỷ lệ nợ công thêm từ 2-3% GDP để có thêm nguồn lực hỗ trợ nền kinh tế. Ông Võ Hữu Hiển cho biết, theo kế hoạch vay, trả nợ công năm 2020 Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt, kế hoạch vay của Chính phủ năm 2020 là 501.000 tỷ đồng, gồm: vay trong nước 394.000 tỷ đồng và vay nước ngoài 107 tỷ đồng.

“Trường hợp tăng vay vốn thêm 2-3% GDP để bổ sung nguồn lực cho đầu tư phát triển, hỗ trợ nền kinh tế ứng phó trước tác động của đại dịch Covid-19, theo tính toán của chúng tôi, khả năng các chỉ tiêu nợ công, nợ Chính phủ so với GDP vẫn nằm trong giới hạn được Quốc hội cho phép. Tuy vậy, phương án vay bổ sung 2-3% GDP trong năm 2020, tương ứng với 180.000 – 240.000 tỷ đồng (trên cơ sở GDP đánh giá lại), so với kế hoạch Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt cũng sẽ là thách thức không nhỏ”, đại diện Cục Quản lý nợ và Tài chính đối ngoại nhận định.

tang ty le no cong them tu 2-3% gdp: ap luc vay no moi de tra no cu hinh 2
Ông Võ Hữu Hiển, Phó Cục trưởng Cục Quản lý nợ và Tài chính đối ngoại (Bộ Tài chính)

Nguyên nhân là do tình hình giải ngân nguồn vốn đầu tư công, trong đó có các khoản vay ODA, vay ưu đãi nước ngoài từ đầu năm đến nay còn rất chậm, việc thực hiện 100% kế hoạch vốn trong năm đã được Quốc hội, Chính phủ giao đòi hỏi nỗ lực rất lớn. Hiện còn trên 10 tỷ USD các khoản vay ODA, vay ưu đãi nước ngoài đã ký kết, cần ưu tiên giải ngân ngay trong năm này cũng như giai đoạn tới theo đúng cam kết với các nhà tài trợ.

“Việc huy động vốn vay nước ngoài cho chương trình dự án mới đòi hỏi thời gian chuẩn bị dài, có thể lên tới 2-3 năm do đòi hỏi nhiều thủ tục, trình tự phải triển khai trước khi có thể hoàn thành đàm phán, ký kết và giải ngân. Nếu huy động vốn vay nước ngoài để hỗ trợ trực tiếp cho ngân sách có thể triển khai nhanh hơn, nhưng thông thường các khoản vay này có quy mô nhỏ và kèm theo ràng buộc chính sách”, ông Hiển cho hay.

Mặt khác, khả năng hấp thụ vốn của thị trường trái phiếu chính phủ trong nước còn hạn chế. Việc thực hiện phát hành thêm khối lượng vốn lớn sẽ dẫn đến nguy cơ gây áp lực gia tăng chi phí vay vốn của Chính phủ, hoặc dẫn đến rủi ro tái cấp vốn trong những năm sau trong trường hợp Chính phủ phải phát hành trái phiếu kỳ hạn ngắn để đáp ứng nhu cầu vay tăng cao.

Dẫn ví dụ một số nước, lãnh đạo Cục Quản lý nợ và Tài chính đối ngoại cho biết, việc bội chi, nợ công gia tăng mạnh trở lại, cũng như việc tham gia vào các sáng kiến giảm nợ của một số tổ chức quốc tế đã ảnh hưởng trực tiếp và tiêu cực lên hệ số tín nhiệm của một số nước. Việc này gắn với hệ lụy một mặt làm ảnh hưởng đến uy tín và hình ảnh của Việt Nam trên trường quốc tế, mặt khác còn làm tăng chi phí vay vốn của toàn bộ nền kinh tế.

“Trường hợp Quốc hội phê duyệt điều chỉnh tăng tỷ lệ bội chi ngân sách nhà nước năm 2020 cần tính đến việc huy động từ các quỹ dự trữ tài chính trong nước, từ ngân quỹ nhà nước, cũng có thể phải tính đến phương án phát hành trái phiếu Chính phủ trên thị trường vốn quốc tế. Đồng thời, cũng cần đa dạng hóa các nguồn lực khác như tranh thủ nguồn viện trợ, đầu tư trực tiếp nước ngoài để giảm áp lực lên nợ công”, ông Hiển nêu ý kiến.

Về việc xem xét nâng trần nợ công trong giai đoạn tới, đại diện Bộ Tài chính cho biết, việc tính toán, đề xuất trần nợ công để trình Quốc hội xem xét, phê duyệt trong giai đoạn sẽ được cân nhắc kỹ để đảm bảo mục tiêu giữ vững an ninh tài chính quốc gia, bền vững nợ. Một mặt phù hợp với khả năng vay vốn trên thị trường để đáp ứng nhu cầu đầu tư phát triển, mặt khác phù hợp với khả năng trả nợ của ngân sách, không làm ảnh hưởng đến xếp hạng tín nhiệm quốc gia cũng như hình ảnh của Việt Nam trên trường quốc tế./.

Theo VOV