Thứ năm,  24/09/2020

Ðể sử dụng hiệu quả hệ thống công trình thủy lợi

Hệ thống công trình thủy lợi là cơ sở hạ tầng thiết yếu, phục vụ tưới, tiêu cho diện tích lớn cây trồng, góp phần quan trọng làm tăng năng suất, chất lượng sản phẩm nông nghiệp, thủy sản; phòng, chống giảm nhẹ thiên tai và thúc đẩy phát triển các ngành kinh tế khác.Tuy nhiên, sau một thời gian dài sử dụng, lại không thường xuyên đầu tư sửa chữa, đến nay, phần lớn các công trình đã xuống cấp, làm suy giảm năng lực tưới, tiêu... Làm thế nào để nâng cao hiệu quả hệ thống công trình thủy lợi đang là vấn đề cấp bách hiện nay.Hiệu quả thiết thựcĐến nay, cả nước có 904 hệ thống thủy lợi lớn và vừa có quy mô phục vụ từ 200 ha trở lên; hơn 5.000 hồ chứa các loại, với tổng dung tích trữ nước gần 36 tỷ m3; hơn 10.000 trạm bơm và gần 5.000 cống tưới tiêu lớn. Hệ thống đê điều gồm 5.700 km đê sông, 3.000 km đê biển, 23 nghìn km bờ bao ngăn lũ đầu vụ hè thu ở đồng bằng sông Cửu Long và hàng trăm cây số kè; hơn 126...
Hệ thống công trình thủy lợi là cơ sở hạ tầng thiết yếu, phục vụ tưới, tiêu cho diện tích lớn cây trồng, góp phần quan trọng làm tăng năng suất, chất lượng sản phẩm nông nghiệp, thủy sản; phòng, chống giảm nhẹ thiên tai và thúc đẩy phát triển các ngành kinh tế khác.

Tuy nhiên, sau một thời gian dài sử dụng, lại không thường xuyên đầu tư sửa chữa, đến nay, phần lớn các công trình đã xuống cấp, làm suy giảm năng lực tưới, tiêu… Làm thế nào để nâng cao hiệu quả hệ thống công trình thủy lợi đang là vấn đề cấp bách hiện nay.

Hiệu quả thiết thực

Đến nay, cả nước có 904 hệ thống thủy lợi lớn và vừa có quy mô phục vụ từ 200 ha trở lên; hơn 5.000 hồ chứa các loại, với tổng dung tích trữ nước gần 36 tỷ m3; hơn 10.000 trạm bơm và gần 5.000 cống tưới tiêu lớn. Hệ thống đê điều gồm 5.700 km đê sông, 3.000 km đê biển, 23 nghìn km bờ bao ngăn lũ đầu vụ hè thu ở đồng bằng sông Cửu Long và hàng trăm cây số kè; hơn 126 nghìn km kênh mương các loại, trong đó hơn 1.000 km kênh trục lớn, cùng với hàng vạn công trình trên kênh. Tổng năng lực thiết kế bảo đảm tưới cho khoảng 3,45 triệu ha đất canh tác, góp phần làm tăng giá trị sản lượng nông nghiệp trên một đơn vị diện tích canh tác, tạo nên những cánh đồng 50 triệu đồng/ha, thậm chí còn cao hơn nữa nhờ chủ động được tưới, tiêu nước. Hệ thống thủy lợi Đồng Tháp Mười, tứ giác Long Xuyên, tây sông Hậu, Quản Lộ – Phụng Hiệp, ngọt hóa bán đảo Cà Mau và đắp đê ngăn mặn ở Sóc Trăng đã chủ động ngăn mặn, giữ ngọt, mở rộng diện tích đất lúa thêm hàng nghìn ha cho các tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu Long.

Mặt khác, hệ thống công trình thủy lợi còn tạo điều kiện phát triển đa dạng hóa cây trồng, chuyển dịch cơ cấu, nâng hiệu suất sử dụng đất, phân bố lại nguồn nước tự nhiên, cải tạo đất, cải tạo môi trường theo chiều hướng có lợi cho sản xuất và sinh hoạt, tạo điều kiện để định canh, định cư, giảm nạn đốt rừng làm nương. Bên cạnh đó, chăn nuôi cũng phát triển đa dạng, phong phú theo hướng hiệu quả kinh tế cao. Tạo điều kiện hình thành và phát triển các vùng chuyên canh cây trồng, vật nuôi như lúa ở đồng bằng sông Cửu Long và đồng bằng sông Hồng, cao-su và cà-phê ở miền Đông Nam Bộ, Tây Nguyên, chè ở trung du và miền núi phía bắc… Ngoài ra, hằng năm, hệ thống công trình thủy lợi trong cả nước cung cấp gần sáu tỷ m3 nước cho các ngành sản xuất công nghiệp và sinh hoạt; cải tạo môi trường sinh thái, tạo nên những cảnh quan đẹp phục vụ du lịch… Một số hệ thống thủy lợi được đầu tư, khai thác hiệu quả đã làm cho các vùng đất khô cằn trở thành những vùng đất trù phú, có điều kiện để người dân sinh hoạt, canh tác, như các hệ thống thủy lợi các tỉnh duyên hải miền trung và vùng Đông Nam Bộ như Dầu Tiếng (Tây Ninh), hệ thống thủy lợi Sông Quao (Bình Thuận)…

Hạn chế cần khắc phục

Theo Tổng cục Thủy lợi, biến đổi khí hậu, suy thoái nguồn tài nguyên nước ngọt, nước mặn xâm nhập sâu vào đất liền, hạn hán, lũ lụt liên tiếp xảy ra đã gây ảnh hưởng lớn đến hệ thống công trình thủy lợi và an toàn hồ đập. Hàng loạt gánh nặng này tiếp tục được đặt lên vai ngành thủy lợi trong giai đoạn sắp tới. Tại lưu vực sông Hồng và sông Thái Bình, trong hai thập niên qua đã có những thay đổi rất lớn. Các hồ thủy điện đã giữ lại phần lớn nguồn nước lũ với dòng phù sa tự nhiên để xả về hạ lưu dòng chảy có chất lượng hoàn toàn thay đổi so với trước. Chính dòng chảy này đã tạo thay đổi lớn về chế độ, lưu lượng, chất lượng làm mất đi sự tự nhiên vốn có của sông Hồng. Sự biến đổi về dòng chảy của con sông này gây tình trạng sạt lở nghiêm trọng, khô hạn và ô nhiễm môi trường chưa từng có cho sông Nhuệ, sông Đáy, sông Tô Lịch trong một số năm qua tại Hà Nội.

Trong khi nhiều hệ thống thủy lợi phát huy cao năng lực so thiết kế ban đầu, thì nhiều công trình lại không phát huy hết năng lực so khả năng của công trình đầu mối. Theo số liệu điều tra và báo cáo của các địa phương, bình quân chung hiệu quả của các hệ thống thủy lợi trên toàn quốc đều thấp so công suất thiết kế ban đầu, tính theo diện tích tưới, tiêu. Ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, nhiều kênh mương trục chính đã được xây dựng nhưng thiếu công trình điều tiết, hệ thống nội đồng chưa hoàn chỉnh, quản lý thiếu chặt chẽ nên không phát huy đầy đủ khả năng như dự kiến. Diện tích được bảo đảm chủ động tưới, tiêu còn thấp. Theo chỉ tiêu thiết kế, công trình tưới phải bảo đảm ở mức 75%, tiêu ở mức 10%. Tuy nhiên, trên thực tế, diện tích bị hạn, bị úng còn lớn, ngay cả khi thời tiết chưa xảy ra biến cố nghiêm trọng như tính toán.

Nguyên nhân dẫn đến hiệu quả hệ thống công trình thủy lợi không phát huy được hết khả năng; trong đó nguyên nhân chủ quan là do nhiều nơi chưa nhận thức đúng và đầy đủ về tầm quan trọng của công tác thủy lợi, chủ yếu quan tâm về xây dựng, ít quan tâm về công tác quản lý, đồng thời có xu hướng nặng về bao cấp, coi nhẹ sự tham gia của người dân, dẫn đến tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào Nhà nước của các tổ chức quản lý, khai thác công trình thủy lợi và của cả người dân. Yêu cầu sử dụng nước tiết kiệm vẫn chưa được quan tâm đúng mức trong quản lý, khai thác công trình. Một số cơ chế chính sách về tài chính trong quản lý, khai thác công trình còn mang nặng tính xin – cho.

Nguyên nhân khách quan là do nhiều năm qua thời tiết diễn biến bất lợi, thiên tai xảy ra ngày càng khắc nghiệt, dẫn đến việc phá hủy hệ thống, thay đổi yêu cầu phục vụ tưới, tiêu của các công trình thủy lợi. Nguyên nhân khác không kém phần quan trọng là sự phát triển kinh tế – xã hội nhanh đã làm cho các hệ thống công trình thủy lợi bị xâm hại, vùng tưới bị xâm chiếm, nhiều hệ thống thủy lợi bị thay đổi mục tiêu nhiệm vụ. Đáng chú ý, nhiều công trình thủy lợi được xây dựng trong điều kiện nền kinh tế khó khăn, nguồn vốn hạn hẹp, dàn trải, cho nên thường áp dụng các tiêu chuẩn thiết kế ứng với tần suất của hệ thống công trình thấp, dẫn đến nhiệm vụ được giao lớn hơn năng lực công trình có thể đảm nhiệm. Nhiều hệ thống được đầu tư chưa đồng bộ, chủ yếu tập trung xây dựng phần đầu mối, chưa chú trọng đầu tư hoàn chỉnh, khép kín hệ thống kênh mương dẫn nước và hệ thống thủy lợi nội đồng…

Tập trung đầu tư, nâng cấp, sửa chữa

Để nâng cao hiệu quả của hệ thống công trình thủy lợi trong xu thế biến đổi khí hậu toàn cầu mà Việt Nam được cảnh báo là một trong năm quốc gia sẽ bị ảnh hưởng nặng nề nhất. Vấn đề đầu tiên được đặt ra là tập trung kinh phí cho công tác duy tu, bảo dưỡng và vận hành công trình từ nguồn cấp bù thủy lợi phí. Kinh phí này hằng năm ít nhất từ 3.500 đến 4.000 tỷ đồng. Đầu tư hoàn chỉnh các hệ thống công trình thủy lợi, đặc biệt đối với các hệ thống thiếu kênh mương các cấp và kênh nội đồng, cống và các công trình điều tiết. Kinh phí theo định mức hỗ trợ năm triệu đồng/ha cho các tổ chức hợp tác dùng nước. Thực hiện chương trình vốn vay ưu đãi, với lãi suất 0% cho các địa phương để thực hiện chính sách kiên cố hóa kênh mương, đặc biệt là các tỉnh miền núi, vùng đất cát và khan hiếm nước. Song song với đó cần đầu tư hệ thống thủy lợi mặt ruộng, kết hợp chương trình san ủi mặt ruộng và giao thông nội đồng. Hỗ trợ hoàn chỉnh hệ thống thủy lợi nội đồng ở những nơi còn thiếu, đặc biệt là vùng đồng bằng sông Cửu Long.

Xa hơn nữa, cần xây dựng Luật Thủy lợi; đồng thời, Nhà nước hỗ trợ kinh phí để các tổ chức quản lý, khai thác công trình thủy lợi thực hiện rà soát, xây dựng quy trình vận hành, quy trình sử dụng nước theo hướng tiết kiệm từ nguồn cấp bù thủy lợi phí, phần thiếu được hỗ trợ theo kế hoạch hoạt động hằng năm. Theo kế hoạch, mỗi năm, đầu tư kinh phí xây dựng từ ba đến năm mô hình tưới tiết kiệm nước, tưới công nghệ hiện đại cho lúa, rau sạch, các cây trồng có hiệu quả kinh tế cao và một số mô hình thủy lợi phục vụ thủy sản, thông qua kế hoạch xây dựng cơ bản hằng năm của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.

Phát huy hiệu quả hệ thống công tác thủy lợi có vai trò rất quan trọng đối với sản xuất nông nghiệp, đặc biệt trong bối cảnh cả nước đang triển khai Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 26/T.Ư về nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Hệ thống công trình thủy lợi hoàn thiện sẽ nâng cao sản lượng lương thực, phòng, chống lụt bão góp phần thiết thực vào công cuộc phát triển đất nước, xóa đói, giảm nghèo và từng bước nâng cao đời sống người dân.

Theo Nhandan