Thứ hai,  28/09/2020

Cánh đồng mẫu lớn hướng tới nền nông nghiệp hiện đại

Cơ giới hóa trong sản xuất ở cánh đồng mẫu lớn. Mô hình cánh đồng mẫu lớn đã và đang được triển khai khắp cả nước là một trong những hướng đi bền vững trong phát triển sản xuất nông nghiệp quy mô tập trung, hiện đại. Tuy nhiên, để có thể phát triển, nhân rộng mô hình cánh đồng mẫu lớn theo đúng định hướng, nhằm đưa nền nông nghiệp phát triển theo hướng hiện đại, bền vững, cần nhìn nhận lại và có bước đi phù hợp.Từ những mô hìnhMô hình "cánh đồng mẫu lớn" (CĐML) đầu tiên được triển khai tại An Giang do Công ty cổ phần Bảo vệ thực vật An Giang tiên phong mở hướng từ giữa năm 2010, đến nay đã trở thành một trong những điển hình tiêu biểu nhất cho mô hình. Đến khoảng tháng 3-2011, mô hình CĐML bắt đầu được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) phát động xây dựng, nhân rộng tại các tỉnh ĐBSCL. Ngay trong vụ hè thu năm 2011, toàn khu vực đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) đã có 13 tỉnh, với 6.400 hộ tham gia xây dựng CĐML, đạt 7.800...

Cơ giới hóa trong sản xuất ở cánh đồng mẫu lớn.
Mô hình cánh đồng mẫu lớn đã và đang được triển khai khắp cả nước là một trong những hướng đi bền vững trong phát triển sản xuất nông nghiệp quy mô tập trung, hiện đại. Tuy nhiên, để có thể phát triển, nhân rộng mô hình cánh đồng mẫu lớn theo đúng định hướng, nhằm đưa nền nông nghiệp phát triển theo hướng hiện đại, bền vững, cần nhìn nhận lại và có bước đi phù hợp.

Từ những mô hình

Mô hình “cánh đồng mẫu lớn” (CĐML) đầu tiên được triển khai tại An Giang do Công ty cổ phần Bảo vệ thực vật An Giang tiên phong mở hướng từ giữa năm 2010, đến nay đã trở thành một trong những điển hình tiêu biểu nhất cho mô hình. Đến khoảng tháng 3-2011, mô hình CĐML bắt đầu được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) phát động xây dựng, nhân rộng tại các tỉnh ĐBSCL. Ngay trong vụ hè thu năm 2011, toàn khu vực đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) đã có 13 tỉnh, với 6.400 hộ tham gia xây dựng CĐML, đạt 7.800 ha. Đến vụ đông xuân 2011-2012, diện tích CĐML đã tăng lên 15.500 ha, trong đó tám tỉnh phát triển mạnh gồm: Long An, Đồng Tháp, An Giang, Vĩnh Long, Kiên Giang, Cần Thơ, Trà Vinh, Tây Ninh. Hầu hết các CĐML đã thực hiện ở khu vực ĐBSCL nói riêng, toàn Nam Bộ nói chung đều thành công tốt đẹp cả về năng suất, chất lượng, giá thành sản xuất, thu mua, tiêu thụ. Từ đó, bài toán về lợi nhuận trên diện tích sản xuất được bảo đảm ổn định, nông dân tham gia mô hình không còn cảnh nơm nớp nỗi lo giá bán trồi sụt, ổn định chất lượng và đích đến cuối cùng là tăng thu nhập cho người nông dân. Theo đó, lợi nhuận tăng thêm so với khu vực sản xuất ngoài mô hình đạt từ 2,5 đến ba triệu đồng/ha. Cá biệt, có tỉnh như Trà Vinh, lợi nhuận tăng thêm đạt đến 7,5 triệu đồng/ha, nâng tổng lợi nhuận bình quân đạt mức 26 – 27 triệu đồng/ha. Còn ở các tỉnh phía bắc, mô hình CĐML, vụ đông xuân 2011-2012 đã có bốn tỉnh tham gia thực hiện, trong đó Thanh Hóa 300 ha với hai CĐML, Nam Định 560 ha với 12 CĐML, Thái Bình 240 ha với ba CĐML và Hà Nội 3.500 ha với 31 CĐML.

Có thể nói, mô hình CĐML từ khi đi vào ứng dụng thí điểm tại các tỉnh ĐBSCL đã mở ra hướng phát triển nông nghiệp bền vững, giải quyết tốt vai trò phát triển khách quan của quy trình sản xuất lúa hiện đại. Chỉ hơn một năm hình thành, phát triển mô hình CĐML đã bộc lộ hàng loạt ưu điểm cần được thừa nhận như: Bảo đảm lịch thời vụ gieo sạ đồng loạt theo từng vùng, áp dụng quy trình sản xuất theo hướng thực hành tốt (GAP) trên cơ sở các kỹ thuật đã được ứng dụng rộng như “ba giảm ba tăng” (giảm: lượng giống gieo sạ, phân đạm, thuốc trừ sâu; tăng: năng suất, chất lượng, hiệu quả) hay “một phải năm giảm” (phải: dùng hạt giống xác nhận, giảm: ngoài ba giảm trên còn giảm lượng nước tưới, giảm thất thoát thu hoạch), ghi chép nhật ký đồng ruộng cùng tiến trình kiểm soát sát sao của các kỹ sư nông nghiệp và đặc biệt là áp dụng máy gặt đập liên hợp trong thu hoạch, giảm tổn thất sau thu hoạch, phơi sấy đúng quy trình, bảo đảm lượng gạo hàng hóa nhiều, ổn định từ đó xây dựng được thương hiệu hàng hóa cho hạt gạo Việt Nam. Một vấn đề khác cũng cần phải nhắc đến là vấn đề thu nhập cho lao động nông thôn. Chính thu nhập thấp đã tạo ra làn sóng người từ nông thôn ra thành thị kiếm việc làm, khiến áp lực dân cư đô thị tăng chóng mặt, đồng thời tạo ra vòng luẩn quẩn ra thành phố – quay về cố hương. Trong hoàn cảnh đó thì CĐML là mô hình thỏa mãn được phần lớn các yêu cầu của một nền nông nghiệp mới, của một nông thôn mới, của một tầng lớp nông dân mới.

Đặc biệt, qua mô hình CĐML hiện nay có thể thấy việc phân chia lợi nhuận trong chuỗi giá trị, về bản chất là cơ bản bảo đảm với: Nguồn cung đầu vào ổn định (giống, phân, thuốc bảo vệ thực vật), chất lượng (kiểm soát canh tác bằng quy trình kỹ thuật nghiêm ngặt), được gắn kết đầu ra bằng hợp đồng kinh tế. Tổng lượng hàng hóa thu được (lúa hàng hóa – gạo thương phẩm) chất lượng, ổn định. Xây dựng được thương hiệu xuất khẩu. Các chính sách hỗ trợ được phân chia từ gốc đến ngọn mà không bị rơi rụng qua các khâu trung gian… Một mô hình khép kín tương đối hoàn chỉnh đó đã và sẽ giúp các doanh nghiệp sản xuất, chế biến các sản phẩm phục vụ nông nghiệp, doanh nghiệp thu mua, chế biến, xuất khẩu lúa gạo, ngân hàng, trang trại, hợp tác xã nông dân… liên kết lại, chấm dứt sản xuất manh mún, cạnh tranh thiếu lành mạnh, hướng đến một mô hình các tập đoàn sản xuất nông nghiệp hiện đại trong tương lai.

Đến xây dựng nền nông nghiệp hiện đại

Để giữ vững 3,8 triệu ha đất sản xuất nông nghiệp, bảo đảm an ninh lương thực trong bối cảnh ứng phó biến đổi khí hậu, giúp người nông dân “sống khỏe”, bám chặt được với đồng ruộng, hoàn thành các tiêu chí trong quá trình xây dựng nông thôn mới… hiện tại khó có mô hình nào khác tiêu biểu và khả dĩ hơn việc đẩy mạnh phát triển, nhân rộng mô hình CĐML.

Vậy làm thế nào để nhân rộng mô hình CĐML? Trước hết, trong thời gian tới, công tác khuyến nông đã đến lúc cần đầu tư bài bản hơn. Tập huấn, hướng dẫn, ứng dụng, chuyển giao thành tựu khoa học nông nghiệp hiện đại cho nông dân phải được làm hết sức kỹ lưỡng. Bên cạnh đó là chính sách về đào tạo nguồn nhân lực, chính sách ưu đãi đối với các kỹ sư nông nghiệp như mô hình FF (Friend Farm: Bạn của nông dân) mà Công ty cổ phần Bảo vệ thực vật An Giang ứng dụng trong xây dựng mô hình CĐML khu vực ĐBSCL những năm qua… Hai là, liên kết “bốn nhà” trong CĐML với thị trường tiêu thụ và xây dựng thương hiệu hàng hóa vững mạnh trên trường quốc tế. Với hơn sáu triệu tấn gạo xuất khẩu hằng năm, nếu có thương hiệu mạnh, uy tín, chất lượng từ nguồn CĐML, Việt Nam không chỉ thu về vài tỷ USD/năm mà là hàng chục tỷ USD cho ngân sách từ hạt gạo. Ba là, việc xây dựng kinh tế làm ăn hợp tác theo hợp đồng kinh tế. Việc triển khai mô hình CĐML thời gian qua vẫn còn nhiều nơi bị phá vỡ từ cả hai phía: nông dân – doanh nghiệp. Do đó, chính sách pháp lý và vai trò trọng tài phân xử, tuýt còi cần được thể hiện rõ hơn từ phía Nhà nước. Đây là vấn đề khó nhất để mở rộng CĐML thời gian qua. Bốn là, mô hình CĐML hiện mới chỉ dừng lại ở thí điểm, cho nên một số nơi chính quyền địa phương cùng chung tay trực tiếp chỉ đạo, huy động lực lượng để xây dựng CĐML. Tuy nhiên, thời gian tới, chúng ta cần phải tính ngay đến việc đào tạo đội ngũ quản lý mô hình chuyên nghiệp, có thể chính các nông dân hoặc củng cố lại hoạt động các hợp tác xã sản xuất nông nghiệp trong hệ thống liên minh hợp tác xã hiện nay… Và vấn đề cuối cùng, chính là việc Nhà nước phải đầu tư hệ thống cơ sở hạ tầng hoàn chỉnh. Không thể phát triển sản xuất hiện đại, bền vững mà dựa trên nền móng là một cơ sở hạ tầng yếu kém. Đây là vấn đề gắn chặt với công tác triển khai xây dựng chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới mà Đảng, Nhà nước cùng nhân dân cả nước đang chung tay xây dựng.

Theo Nhandan