Liên kết Websites

Dự báo thời tiết

Lạng Sơn29
Hà nội 26
Đà Nẵng26
Hồ Chí Minh29
















Diễn văn Kỷ niệm 80 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam 3/2/1930 - 3/2/2010

 

Kính thưa các đồng chí lãnh đạo lão thành!
     
Thưa các vị đại biểu, thưa toàn thể các đồng chí và các bạn!
   
Hôm nay, chúng ta họp mặt tại đây để Kỷ niệm 80 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc.
  
Trong ngày kỷ niệm trọng thể này, chúng ta tỏ lòng thành kính tưởng nhớ và biết ơn vô hạn Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại - Người sáng lập và rèn luyện Đảng ta, lãnh tụ kính yêu của dân tộc và cách mạng Việt Nam, Anh hùng giải phóng dân tộc, Danh nhân văn hoá thế giới, Người đã suốt đời “hết lòng, hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân” và khi đi xa, đã “để lại muôn vàn tình thân yêu cho toàn dân, toàn Đảng, cho toàn thể bộ đội, cho các cháu thanh niên và nhi đồng”.
   
Chúng ta tưởng nhớ biết bao thế hệ những chiến sĩ cộng sản kiên cường, những nhà lãnh đạo xuất sắc của Đảng, của nhân dân; tưởng nhớ các anh hùng, liệt sĩ đã trọn đời hy sinh, cống hiến cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và của dân tộc. Sự hy sinh anh dũng của các thế hệ đi trước càng tô thắm thêm lá cờ cách mạng quang vinh của Đảng, làm nở hoa độc lập, kết trái tự do và mở đường cho dân tộc ta đi tới ấm no, hạnh phúc. Chúng ta đời đời ghi nhớ công ơn các thế hệ cha anh; quyết noi theo tinh thần xả thân vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân, vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, tiếp tục sự nghiệp cách mạng vẻ vang mà các thế hệ trước đã dày công gây dựng.
   
Với niềm tự hào sâu sắc, chúng ta cùng nhau ôn lại chặng đường lịch sử vẻ vang 80 năm qua của Đảng ta. Năm 1858, thực dân Pháp nổ phát súng đầu tiên ở Đà Nẵng, mở đầu quá trình xâm lược để biến nước ta thành thuộc địa. Ngay từ những ngày đó, nhân dân ta với ý chí quật cường và lòng yêu nước nồng nàn đã liên tiếp vùng dậy, hình thành nhiều phong trào yêu nước và nhiều tổ chức chính trị, dấy lên hàng trăm cuộc khởi nghĩa vũ trang từ Nam đến Bắc. Các phong trào cứu nước và các cuộc khởi nghĩa vũ trang ấy, dù tràn đầy nhiệt huyết yêu nước, đức hy sinh cao cả, với nhiều tấm gương oanh liệt, nhưng đều thất bại do thiếu đường lối đúng đắn. Nước ta đứng trước một cuộc khủng hoảng sâu sắc về đường lối cứu nước.
    
Trong bối cảnh ấy, năm 1911, mới hơn 20 tuổi, người thanh niên Nguyễn Tất Thành đã quyết chí ra đi tìm đường cứu nước. Với lòng yêu nước nồng nàn, tầm nhìn xa trông rộng và trải qua thực tiễn đấu tranh cách mạng, Người đã phân tích các cuộc cách mạng điển hình trên thế giới, nhận ra nguyên nhân thất bại của các phong trào cứu nước ở Việt Nam, dẫn đến cuộc gặp gỡ lịch sử giữa tư tưởng yêu nước của Nguyễn Ái Quốc với Chủ nghĩa Mác - Lênin vào năm 1920, khi Người đọc bản “Sơ thảo lần thứ nhất Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa” của V.I.Lênin. Người đã tiếp thu được bản chất cách mạng và khoa học của Chủ nghĩa Mác - Lênin - đỉnh cao trí tuệ của nhân loại và đưa ra kết luận: “Muốn cứu nước, cứu nhà không còn con đường nào khác là con đường cách mạng vô sản”. Kết luận lịch sử này đã đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc trong quỹ đạo của cách mạng xã hội chủ nghĩa; đặt sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người của dân tộc ta vào dòng chảy của thời đại mới. Người đi tới sự lựa chọn duy nhất đúng đắn về con đường cứu nước, cứu dân - con đường gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội. Nhà yêu nước lớn Phan Bội Châu đã đánh giá sự kiện Nguyễn Ái Quốc truyền bá tư tưởng gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội vào Việt Nam như “Thình lình đang giữa khi khói đục, mây mù, có trận gió xuân thổi tới; thình lình đang giữa lúc trời khuya, đất ngủ, có tia thái dương mọc lên. Trận gió xuân ấy, tia thái dương ấy chính là chủ nghĩa xã hội vậy”.
   
Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc cho rằng: “Muốn cách mạng thành công trước hết phải có Đảng cách mạng, ở trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi. Đảng có vững cách mạng mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy”. Người còn chỉ rõ: cách mạng ở các nước thuộc địa không nhất thiết phụ thuộc vào cách mạng ở chính quốc mà có thể giành thắng lợi trước cách mạng ở chính quốc và tạo điều kiện cho cách mạng chính quốc phát triển, lấy sức ta mà giải phóng cho ta. Người phát triển sáng tạo nguyên lý về Đảng Cộng sản của các nhà sáng lập Chủ nghĩa Mác - Lênin, truyền bá Chủ nghĩa Mác - Lênin, thành lập tổ chức Việt Nam cách mạng thanh niên, đào tạo một đội ngũ cán bộ cốt cán đưa về nước lãnh đạo phong trào công nhân, phong trào yêu nước Việt Nam phát triển mạnh mẽ, sâu rộng. Từ phong trào này ba tổ chức cộng sản đã hình thành: Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng và Đông Dương Cộng sản Liên đoàn.
   
Nhận thức sâu sắc sự cần thiết và tầm quan trọng của một tổ chức thống nhất, có đường lối đúng đắn để lãnh đạo phong trào cách mạng trong cả nước, ngày 3-2-1930, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã triệu tập đại biểu của ba tổ chức cộng sản để họp Hội nghị hợp nhất và thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, đánh dấu một mốc son lịch sử trong sự nghiệp của Đảng ta, dân tộc ta.
   
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là sự kết hợp Chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam, kết hợp giữa dân tộc và giai cấp, dân tộc và thời đại, chủ nghĩa yêu nước chân chính và chủ nghĩa quốc tế trong sáng; là bước ngoặt quyết định của cách mạng Việt Nam. Từ đây, giai cấp công nhân Việt Nam thông qua Đảng tiên phong của mình bước lên vũ đài chính trị, thực hiện sứ mệnh lịch sử vẻ vang: lãnh đạo sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người. Ngay từ khi ra đời, Đảng đã bắt rễ sâu trong lòng dân tộc, đồng hành cùng dân tộc.
   
Trong Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc khởi thảo, được Hội nghị thành lập Đảng thông qua và Luận cương chính trị 1930, Đảng ta đã xác định con đường đi lên của cách mạng Việt Nam là đánh đổ đế quốc, phong kiến, đưa cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa, lấy công nông làm lực lượng chính của cách mạng, làm cơ sở cho việc thành lập Mặt trận thống nhất phản đế, đoàn kết với giai cấp vô sản và các dân tộc bị áp bức trên thế giới, dùng bạo lực và phương pháp cách mạng thích hợp để giành chính quyền.
    
Với đường lối cách mạng đúng đắn ấy, ngay từ khi mới ra đời, dù mới có 40 chi bộ và 565 đảng viên, Đảng ta đã tuyên truyền, vận động, tổ chức và lãnh đạo quần chúng dấy lên phong trào cách mạng rộng khắp cả nước mà đỉnh cao là Xô viết Nghệ Tĩnh. Cao trào cách mạng 1930 - 1931 đã khẳng định trong thực tế vai trò lãnh đạo của Đảng, đội tiền phong của giai cấp công nhân nước ta đối với cách mạng Việt Nam, đồng thời thể hiện sức mạnh vĩ đại, lực lượng cách mạng to lớn của giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và toàn thể dân tộc Việt Nam. Hoảng sợ trước sự phát triển mạnh mẽ của các lực lượng cách mạng do Đảng lãnh đạo, thực dân Pháp điên cuồng khủng bố. Hàng ngàn chiến sĩ cách mạng và quần chúng ưu tú của Đảng đã anh dũng hy sinh trong các cuộc đấu tranh và trong nhà tù đế quốc. Cách mạng bị tổn thất lớn, nhưng Đảng ta vẫn kiên cường củng cố lực lượng, phát triển tổ chức và tiếp tục lãnh đạo nhân dân dấy lên cao trào Mặt trận dân chủ Đông Dương 1936 - 1939, gắn cách mạng nước ta với phong trào nhân dân thế giới đấu tranh chống chủ nghĩa phát xít và chiến tranh đế quốc, chống chủ nghĩa thực dân, đòi tự do, cơm áo, hòa bình. Trong cao trào này, Đảng ta đã động viên và giáo dục chính trị sâu rộng, sử dụng thành công nhiều hình thức tổ chức và phương pháp đấu tranh phong phú, kết hợp chặt chẽ hoạt động bí mật với hoạt động công khai hợp pháp, nửa hợp pháp, lôi cuốn hàng triệu người thuộc các tầng lớp nhân dân từ thành thị đến nông thôn đấu tranh ở mọi nơi, phối hợp với đấu tranh trong nghị viện.
   
Đầu năm 1941, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trở về nước trực tiếp chỉ đạo cách mạng. Tháng 5-1941, Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ tám lịch sử do Người chủ trì đã đưa ra nhận định hết sức quan trọng về mối quan hệ giữa dân tộc và giai cấp: “Trong lúc này, nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được”. Hội nghị đã quyết định chuyển hướng chiến lược, thành lập Mặt trận Việt minh, chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền. Một cao trào cứu nước được phát động, lôi cuốn mọi tầng lớp nhân dân đứng lên đấu tranh đánh đuổi phát xít Nhật, thực dân Pháp. Đảng lãnh đạo xây dựng các căn cứ địa cách mạng ở nhiều vùng, xây dựng lực lượng vũ trang, tổ chức và tập dượt quần chúng nổi dậy; vừa tiến hành chiến tranh du kích, khởi nghĩa từng phần ở nông thôn, vừa xây dựng lực lượng chính trị quần chúng và đấu tranh chính trị ở cả nông thôn và thành thị. Với sự lãnh đạo kiên quyết và nhạy bén, Đảng ta đã kịp thời nắm bắt thời cơ, phát động tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước.
   
Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là thắng lợi điển hình của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc do chính đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo, lần đầu tiên thắng lợi ở một nước thuộc địa nửa phong kiến. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đánh giá, với thắng lợi vĩ đại này, “chẳng những giai cấp lao động và nhân dân Việt Nam ta có thể tự hào, mà giai cấp lao động và những dân tộc bị áp bức nơi khác cũng có thể tự hào rằng: lần này là lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa, một Đảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo thành công, đã nắm chính quyền toàn quốc”.
   
Ngay sau khi ra đời, Nhà nước ta đã phải đương đầu với thù trong, giặc ngoài; cùng lúc phải đấu tranh chống giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm. Trong tình thế ngàn cân treo sợi tóc, Đảng ta - đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh - đã lãnh đạo nhân dân kiên quyết chiến đấu bảo vệ nền độc lập tự do của Tổ quốc, đồng thời vận dụng khôn khéo sách lược phân hóa, loại bỏ từng kẻ thù, tranh thủ thời gian xây dựng lực lượng, chuẩn bị cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài, dựa vào sức mình là chính. Hưởng ứng “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, toàn dân Việt Nam đã nhất tề đứng lên đánh giặc, cứu nước, càng đánh càng mạnh, cuối cùng đi đến chiến thắng oanh liệt Điện Biên Phủ.
   
Thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và Hiệp nghị Giơnevơ 1954 đã mở đường đưa miền Bắc tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, chấm dứt ách thống trị của chủ nghĩa thực dân cũ trên đất nước ta. Nhưng ngay sau đó, cách mạng Việt Nam lại phải đương đầu với đế quốc Mỹ xâm lược. Trong tình thế cực kỳ nghiêm trọng của đất nước và bối cảnh quốc tế phức tạp, Đảng ta đã tỏ rõ bản lĩnh vững vàng, kiên định, độc lập tự chủ quyết định đường lối tiến hành đồng thời cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam và cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, hình thành mối quan hệ hợp đồng chiến đấu giữa tiền tuyến lớn miền Nam và hậu phương lớn miền Bắc xã hội chủ nghĩa, gắn cuộc kháng chiến cứu nước của dân tộc ta với cuộc đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên toàn thế giới, tranh thủ sự đoàn kết, ủng hộ quốc tế ngày càng rộng lớn, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, liên tiếp đánh bại các chiến lược chiến tranh của địch, giành thắng lợi vĩ đại trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 mà đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh, hoàn thành sứ mệnh lịch sử thiêng liêng: giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Đánh giá thắng lợi này, Đại hội toàn quốc lần thứ IV của Đảng năm 1976 đã khẳng định: “Năm tháng sẽ trôi qua, nhưng thắng lợi của nhân dân ta trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc ta như một trong những trang chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời của sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỷ XX, một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế to lớn và có tính thời đại sâu sắc”.
    
Thưa các đồng chí!
   
Lịch sử 30 năm tiến hành hai cuộc kháng chiến oanh liệt, đánh thắng hai đế quốc hùng mạnh nhất, hoàn thành trọn vẹn sự nghiệp cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đã khẳng định: Một dân tộc có sự lãnh đạo của một chính đảng lấy Chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động, có đường lối đúng đắn, có sách lược khôn khéo, phát huy mạnh mẽ chủ nghĩa yêu nước và khối đại đoàn kết toàn dân tộc, kết hợp chặt chẽ sức mạnh của truyền thống và hiện đại, sức mạnh dân tộc và thời đại, tập hợp trên thực tế mặt trận nhân dân thế giới đoàn kết ủng hộ, giúp đỡ thì hoàn toàn có thể đánh bại mọi thế lực đế quốc xâm lược, bảo vệ vững chắc nền độc lập dân tộc, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc. Đại hội lần thứ IV của Đảng đã quyết định đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa trong phạm vi cả nước. Đại hội đánh dấu một giai đoạn phát triển mới của cách mạng Việt Nam, cổ vũ nhân dân ta hăng hái tiến quân vào sự nghiệp xây dựng lại đất nước, cải tạo và phát triển kinh tế, nhằm đưa nước ta tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội.
   
Do hậu quả chiến tranh hết sức nặng nề, đất nước bị tàn phá, công nghiệp còn nhỏ bé, nông nghiệp thì lạc hậu, lại bị các thế lực thù địch bao vây, cấm vận toàn diện về kinh tế, cô lập về ngoại giao, âm mưu gây bạo loạn lật đổ, do phải tập trung sức lực trong cuộc chiến đấu mới bảo vệ Tổ quốc, làm nghĩa vụ quốc tế và do cả những sai lầm về một số chủ trương và chính sách lớn, về chỉ đạo chiến lược và tổ chức thực hiện, nhất là nhận thức chưa thật đúng, thật phù hợp về chủ nghĩa xã hội, có phần chủ quan, nóng vội, cho nên nước ta lâm vào cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội nghiêm trọng.
   
Tổng kết sâu sắc thực tiễn 10 năm xây dựng chủ nghĩa xã hội trên phạm vi cả nước, trên cơ sở đánh giá đúng đắn quyết tâm và những cố gắng lớn lao cùng với sự trăn trở, tìm tòi con đường phát triển trong thời kỳ mới vừa khẳng định những thành tựu, vừa chỉ rõ những yếu kém, khuyết điểm, Đại hội lần thứ VI năm 1986 của Đảng đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước, đánh dấu một bước ngoặt đột phá trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta, đem lại luồng sinh khí mới trong xã hội, làm xoay chuyển cục diện tình hình, đưa đất nước tiến lên. Đại hội VII của Đảng đã thông qua “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội” và Đảng ta tiếp tục bổ sung, phát triển nội dung đường lối tại các Đại hội VIII, IX và Đại hội X. Sự nghiệp đổi mới trong những năm qua, tuy vẫn còn những mặt yếu kém và khuyết điểm, song đã đạt được những thành tựu to lớn, toàn diện và có ý nghĩa lịch sử. Đất nước ta có sự thay đổi cơ bản và toàn diện, đã khắc phục được một bước quan trọng hậu quả của chiến tranh, ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, tăng trưởng kinh tế với nhịp độ tương đối nhanh, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được xây dựng bước đầu, công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá được đẩy mạnh; đời sống nhân dân được cải thiện đáng kể, hệ thống chính trị và khối đại đoàn kết toàn dân do Đảng lãnh đạo được củng cố và tăng cường; sức mạnh tổng hợp của đất nước tăng lên nhiều; vị thế nước ta trên trường quốc tế không ngừng được nâng cao.           
   
Những năm qua, bên cạnh những mặt thuận lợi, đất nước ta cũng gặp không ít khó khăn. Song Đảng ta đã chèo lái con thuyền cách mạng Việt Nam, phát huy được sức mạnh của toàn Đảng, toàn dân; kinh tế tiếp tục phát triển, đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân được cải thiện rõ rệt. Thu nhập bình quân đầu người năm 2008 đạt trên 1000 USD, vượt qua ngưỡng nước nghèo chậm phát triển. Năm 2009, mặc dù phải chịu ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính, suy thoái kinh tế thế giới và suy giảm kinh tế trong nước, cùng với thiên tai, dịch bệnh hoành hành dữ dội, trong bối cảnh kinh tế thế giới tăng trưởng âm, Việt Nam vẫn là một trong số ít các nước có tốc độ tăng trưởng khá cao, đạt 5,32%. Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội bằng 42,8% GDP; nhiều chỉ tiêu kinh tế đạt và vượt kế hoạch đề ra. Lĩnh vực xã hội có nhiều chuyển biến tiến bộ mới. Quan tâm thực hiện các chính sách xã hội đạt được nhiều kết quả. Nhất là đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, trong đó, đặc biệt quan tâm đến nông nghiệp và nông thôn, giải quyết xoá đói giảm nghèo. Dân chủ xã hội ngày càng được mở rộng. Đời sống của nhân dân ngày càng được cải thiện: ăn, mặc, nhà ở, đi lại, học hành, chữa bệnh của nhân dân ngày một tốt hơn. Cải cách hành chính, phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm đạt nhiều kết quả tích cực. Hệ thống chính trị và khối đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố và tăng cường. Chính trị, xã hội ổn định, an ninh, quốc phòng được giữ vững. Vai trò và vị thế của nước ta trên trường quốc tế ngày càng nâng cao. Những kết quả đạt được sau hơn 3 năm gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) tiếp tục khẳng định chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta về chủ động hội nhập quốc tế. Sự gắn bó máu thịt giữa Đảng với dân, dân với Đảng ngày càng bền chặt trong mặt trận đại đoàn kết dân tộc.
   
Những thành tựu to lớn đó chứng tỏ đường lối đổi mới của Đảng ta là đúng đắn, sáng tạo; con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta là phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Điều rất quan trọng là sau gần 25 năm lãnh đạo và chỉ đạo công cuộc đổi mới, Đảng và Nhà nước ta ngày càng tích luỹ thêm được nhiều kinh nghiệm; nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta ngày càng sáng tỏ hơn.
           
Thưa các đồng chí,
   
Ôn lại chặng đường 80 năm lịch sử vẻ vang của Đảng và của cách mạng Việt Nam, chúng ta vô cùng tự hào về những thắng lợi vĩ đại của cách mạng Việt Nam, về sự phát triển mạnh mẽ, toàn diện của đất nước ta. Với những thắng lợi giành được của cách mạng kể từ ngày có Đảng, nước ta từ một nước thuộc địa nửa phong kiến đã trở thành một quốc gia độc lập, tự do, phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa, có quan hệ quốc tế rộng rãi, có vị thế ngày càng được nâng cao ở khu vực và trên thế giới... Nhân dân ta từ thân phận nô lệ đã trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ xã hội. Đất nước ta từ một nền kinh tế nghèo nàn, lạc hậu đã bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Chúng ta tự hào về Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh luôn giữ vững bản chất cách mạng và khoa học, trung thành vô hạn với giai cấp và dân tộc, kiên định, vững vàng trước mọi thách thức hiểm nghèo, sáng suốt lãnh đạo sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta tiến lên.
   
Càng tự hào về dân tộc và nhân dân anh hùng, về Đảng quang vinh, chúng ta càng biết ơn sâu sắc Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại - Người sáng lập, rèn luyện Đảng ta. Người đã để lại cho dân tộc ta, Đảng ta một sự nghiệp vẻ vang, một di sản vô giá, đó là tư tưởng Hồ Chí Minh, và một tấm gương trong sáng, mẫu mực, trọn đời phấn đấu hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân. Chúng ta ghi nhớ lời điếu của Ban Chấp hành Trung ương Đảng ta đọc trước anh linh của Người: “Dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta đã sản sinh ra Hồ Chủ tịch, Người anh hùng dân tộc vĩ đại, và chính Người đã làm rạng rỡ dân tộc ta, nhân dân ta và non sông đất nước ta”.
       
Thưa các đồng chí!
     
Ôn lại truyền thống đấu tranh cách mạng của Đảng ta trong 80 năm qua, Đảng bộ và nhân dân các dân tộc Lạng Sơn vô cùng tự hào về Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh. Đồng thời cũng rất tự hào về truyền thống vẻ vang của Đảng bộ tỉnh Lạng Sơn. Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, đồng chí Hoàng Văn Thụ đã trở thành một trong những đảng viên đầu tiên của Đảng, là người đảng viên cộng sản đầu tiên của Lạng Sơn. Từ những Chi bộ đầu tiên ra đời năm 1933 ở Thuỵ Hùng (Cao Lộc), năm 1936 ở Bắc Sơn, năm 1938 ở Phi Mỹ (nay là xã Tri Phương, huyện Tràng Định). Đến nay toàn Đảng bộ có 755 tổ chức cơ sở Đảng; 308 đảng bộ, 447 chi bộ và 3.428 chi, đảng bộ dưới đảng bộ cơ sở với hơn 45.000 đảng viên, bằng 6,15% dân số toàn tỉnh đã và đang thực sự là đội tiên phong, là lực lượng lãnh đạo quân và dân các dân tộc trong tỉnh thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị trong từng thời kỳ cách mạng, góp phần vào thắng lợi chung của sự nghiệp cách mạng của nhân dân cả nước.
       Trải qua các thời kỳ lịch sử, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh, Đảng bộ tỉnh Lạng Sơn đã Phát huy truyền thống anh hùng của dân tộc, với tinh thần tự lực tự cường, với bản lĩnh cách mạng vững vàng, đã vận dụng sáng tạo đường lối cách mạng của Đảng vào thực tiễn địa phương, đã tuyên truyền, vận động, tổ chức và lãnh đạo quần chúng nhân dân các dân tộc trong tỉnh dấy lên phong trào cách mạng rộng khắp, đã làm nên cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn tháng 9 năm 1940, cùng với cả nước Tổng khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân, làm nên Cách mạng Tháng Tám lịch sử, tiến hành cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân pháp xâm lược, góp phần vào chiến thắng đường 4, giải phóng biên giới, giải phóng Lạng Sơn tháng 10 năm 1950; lực lượng bộ đội, dân công hoả tuyến, thanh niên xung phong là con em các dân tộc Lạng Sơn đã có mặt khắp các chiến trường tiến về Tây Bắc, góp phần làm nên chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ; tích cực khắc phục hậu quả chiến tranh, khôi phục phát triển kinh tế, cùng cả nước thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam : xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, là “cảng nổi” kiên cường trong những năm chống Mỹ cứu nước, ra sức chi viện sức người, sức của cho sự nghiệp giải phóng Miền Nam thống nhất đất nước; bảo vệ vững chắc biên giới thiêng liêng của Tổ quốc. Đảng bộ, nhân dân các dân tộc tỉnh Lạng Sơn đã vinh dự được tặng thưởng danh hiệu anh hùng lực lượng vũ trang trong kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.
      
Kính thưa các đồng chí!
    
Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Đảng bộ, quân và dân các dân tộc tỉnh Lạng Sơn đã có những đóng góp quan trọng vào sự nghiệp cách mạng của Đảng, đặc biệt là thực hiện công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo, truyền thống anh hùng, tinh thần đoàn kết, yêu nước xã hội chủ nghĩa đã và đang được Đảng bộ, chính quyền, quân và dân các dân tộc tỉnh Lạng Sơn phát huy, biến thành quyết tâm thành hành động cách mạng, sáng tạo trong lao động sản xuất, vươn lên giành nhiều thành tích đáng tự hào, đưa Lạng Sơn từ một tỉnh miền núi, kinh tế chậm phát triển, trình độ dân trí thấp, đời sống của nhân dân các dân tộc còn gặp nhiều khó khăn, đến nay đã trở thành một tỉnh có bước phát triển khá toàn diện trên các lĩnh vực. Kinh tế liên tục tăng trưởng với nhịp độ khá, bình quân giai đoạn 2006 - 2008 đạt 11,48%. Năm 2009, tuy phải đối mặt với không ít khó khăn và thách thức nhưng với nỗ lực của các cấp, các ngành và nhân dân các dân tộc trong tỉnh, chúng ta đã đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ, đưa sự nghiệp đổi mới của tỉnh tiếp tục đạt được những kết quả quan trọng, tổng sản phẩm nội tỉnh (GDP) cả năm tăng 9,52%; cơ cấu kinh tế đã có bước chuyển dịch tích cực, từng bước khai thác tiềm năng, lợi thế của tỉnh để phát triển theo hướng tăng dần tỷ trọng ngành thương mại, dịch vụ và công nghiệp - xây dựng, giảm dần tỷ trọng ngành nông, lâm nghiệp, thu ngân sách năm sau cao hơn năm trước, kim ngạch xuất nhập khẩu qua địa bàn đạt tốc độ tăng bình quân hằng năm là 44,24%; thu nhập bình quân đầu người đạt trên 13,3 triệu đồng/năm. Khu kinh tế cửa khẩu Đồng Đăng - Lạng Sơn đang xây dựng sẽ trở thành Khu kinh tế động lực, với các cơ chế chính sách ưu đãi, phát triển năng động, đóng vai trò là đầu cầu liên kết của tuyến hành lang kinh tế Nam Ninh - Lạng Sơn - Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh.
   
Cùng với những kết quả về phát triển kinh tế, lĩnh vực văn hoá - xã hội đã có những tiến bộ rõ nét; giáo dục và đào tạo đạt một số kết quả quan trọng về duy trì quy mô, nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện; tỉnh đã được công nhận hoàn thành phổ cập giáo dục trung học cơ sở và hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi; có trên 84,1% xã được công nhận đạt chuẩn quốc gia về y tế; tỷ lệ trạm y tế xã có bác sỹ đạt 75%; phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá phát triển sâu rộng. Các mục tiêu giảm nghèo, giải quyết việc làm được triển khai tích cực, đến nay tỷ lệ hộ nghèo giảm xuống còn 16,9%. Phong trào đền ơn đáp nghĩa, thực hiện chính sách xã hội đối với người có công được thực hiện tốt. Kết cấu hạ tầng cơ sở được quan tâm đầu tư xây dựng, toàn tỉnh có 195/226 xã có đường ô tô đi được 4 mùa; 100% xã có điện lưới quốc gia; tỷ lệ xã, phường, thị trấn có sân chơi, bãi tập thể thao đạt 65%; tỷ lệ hộ được xem truyền hình Việt Nam đạt 82%. Đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân các dân tộc trong tỉnh, nhất là đồng bào vùng cao, vùng biên giới không ngừng ổn định và được cải thiện. Quốc phòng, an ninh được giữ vững, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo. Hệ thống chính trị không ngừng củng cố vững mạnh, đáp ứng ngày càng tốt hơn cho yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới. Qua hơn 3 năm thực hiện Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” đã tạo sự chuyển biến tích cực trong nhận thức của cán bộ, đảng viên, chiến sỹ lực lượng vũ trang và nhân dân trong toàn tỉnh về những nội dung cơ bản và giá trị to lớn của tư tưởng và tấm gương đạo đức của Bác, qua đó đã tạo được sự chuyển biến về ý thức rèn luyện, tu dưỡng về đạo đức, lối sống trong đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân, thúc đẩy phong trào thi đua yêu nước ở các cấp, các ngành, trong các tầng lớp nhân dân, phấn đấu thực hiện thắng lợi các mục tiêu nhiệm vụ đề ra.
      
Kính thưa các đồng chí!
    
Năm 2010, là năm có nhiều sự kiện trọng đại của đất nước và cũng là năm kết thúc kế hoạch 5 năm 2006 - 2010, năm cuối để hoàn thành các nhiệm vụ mà Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV đã đề ra, năm diễn ra đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng. Để thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ mà Đại hội XIV của Đảng bộ tỉnh đã đề ra, trước mắt là nhiệm vụ năm 2010, chúng ta cần tiếp tục phát huy những kết quả đạt được, phấn đấu thực hiện hoàn thành và hoàn thành vượt mức các mục tiêu nhiệm vụ đã đề ra trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng, xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị.
    
Tập trung huy động, khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực để đầu tư cho phát triển; phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng nhanh và bền vững; chú trọng bảo đảm an sinh xã hội, cải thiện và nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Đẩy nhanh tiến độ xây dựng, phát triển Khu kinh tế cửa khẩu Đồng Đăng - Lạng Sơn. Quan tâm đầu tư các lĩnh vực nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Giữ ổn định, khai thác tối đa năng lực sản xuất của các cơ sở sản xuất công nghiệp, dịch vụ hiện có và phát triển các cơ sở công nghiệp, dịch vụ có lợi thế. Phát huy tối đa lợi thế kinh tế cửa khẩu. Đẩy nhanh tiến độ triển khai thực hiện các dự án khu, cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh. Tăng cường và nâng cao hiệu quả hoạt động xúc tiến thương mại; thúc đẩy các hoạt động xuất nhập khẩu qua địa bàn; thực hiện các giải pháp đồng bộ để tăng thu ngân sách; từng bước nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch. Đẩy mạnh công tác quản lý thị trường, phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại, chống hàng giả, hàng kém chất lượng. Tăng cường xúc tiến đầu tư, cải thiện môi trường đầu tư nhằm huy động tối đa các nguồn vốn cho đầu tư phát triển hạ tầng kinh tế – xã hội. Đổi mới và nâng cao hiệu quả công tác quản lý đầu tư xây dựng; chỉ đạo làm tốt công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng và tái định cư; tăng cường quản lý, sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên, bảo vệ môi trường, sinh thái; tăng cường công tác quy hoạch và quản lý đô thị.
   
Tiếp tục nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giáo dục và đào tạo, phát triển nguồn nhân lực để đáp ứng yêu cầu phát triển trong tình hình mới; tăng cường công tác chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân. Tập trung giải quyết các vấn đề xã hội bức xúc, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân. Tích cực thực hiện chương trình mục tiêu giảm nghèo, phấn đấu giảm tỷ lệ hộ nghèo hằng năm từ 2 - 2,5%; quan tâm thực hiện tốt các chính sách hỗ trợ đối với các địa bàn khó khăn, đối tượng chính sách và người có công. Quan tâm chỉ đạo ứng dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật, công nghệ mới vào sản xuất và đời sống; thực hiện tốt các chương trình mục tiêu để phát huy hiệu quả các nguồn vốn đầu tư phát triển.
     
Thực hiện tốt công tác quốc phòng an ninh, đối ngoại; đảm bảo trật tự an toàn xã hội; đẩy mạnh các biện pháp bảo đảm trật tự an toàn giao thông; phòng, chống có hiệu quả các loại tội phạm, tệ nạn xã hội. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền phổ biến, giáo dục pháp luật; nâng cao hiệu quả công tác tiếp dân, giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân; quan tâm giải quyết kịp thời các vấn đề xã hội bức xúc, những vụ việc phức tạp, không để phát sinh thành “điểm nóng” về an ninh trật tự.
     
Tập trung công tác lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức tốt đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XV; tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên; xây dựng hệ thống chính trị từ tỉnh đến cơ sở đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới. Đẩy mạnh công tác thông tin tuyên truyền; nâng cao chất lượng công tác giáo dục chính trị tư tưởng. Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, với chủ đề trọng tâm là “Tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng ta thật sự trong sạch, vững mạnh, “là đạo đức, là văn minh”. Đẩy mạnh cải cách hành chính; nâng cao hiệu lực, hiệu quả trong quản lý, điều hành của bộ máy hành chính các cấp; nâng cao năng lực thực thi công vụ và tinh thần trách nhiệm của đội ngũ, cán bộ, công chức; đề cao vai trò người đứng đầu cơ quan, đơn vị trong việc thực hiện nhiệm vụ chính trị và giữ gìn kỷ luật, kỷ cương nội bộ. Tăng cường công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí.
   
Thực hiện tốt chính sách đại đoàn kết dân tộc và chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước. Tiếp tục đổi mới và nâng cao chất lượng hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân; thực hiện tốt công tác dân vận ở cơ sở; phối hợp giải quyết kịp thời những kiến nghị và nguyện vọng chính đáng, hợp pháp của nhân dân; củng cố vững chắc khối đại đoàn kết toàn dân và tăng cường sự đồng thuận xã hội, đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, thực hiện thắng lợi các mục tiêu nhiệm vụ đề ra.
     
Kính thưa các đồng chí!
    
Ôn lại chặng đường 80 năm lịch sử vẻ vang của Đảng và của cách mạng Việt Nam, chúng ta vô cùng tự hào về Đảng Cộng sản Việt Nam - Đảng do Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại sáng lập và rèn luyện, một Đảng cách mạng kiên cường, trung thành với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, có tinh thần quốc tế vô sản cao cả, có bản lĩnh chính trị vững vàng và dạn dày trong đấu tranh cách mạng, đã luôn luôn xứng đáng là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của dân tộc, đã lãnh đạo nhân dân ta giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác, làm nên những kỳ tích to lớn trong lịch sử dân tộc và góp phần xứng đáng vào phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, tạo nên một Việt Nam ngày càng có uy tín trên thế giới. Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói “Với tất cả tinh thần khiêm tốn của người cách mạng, chúng ta vẫn có quyền nói rằng Đảng ta thật là vĩ đại”.
   
Với niềm tự hào về Đảng quang vinh, về Bác Hồ vĩ đại, mỗi cán bộ, đảng viên, mỗi tổ chức Đảng từ tỉnh đến cơ sở, mỗi người dân càng thấy rõ hơn bao giờ hết trách nhiệm của mình, tăng cường sự đoàn kết nhất trí, thực hiện có hiệu quả các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, nguyện học tập và làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đẩy mạnh phong trào thi đua lập nên những thành tích xuất sắc trong phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng tổ chức Đảng, xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; quyết tâm hoàn thành mục tiêu kế hoạch năm 2010 và mục tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV đã đề ra, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng, thực hiện thắng lợi mục tiêu: “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.
     Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh muôn năm !
     Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam muôn năm !
     Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta !

 

Phùng Thanh Kiểm, Bí thư Tỉnh uỷ

Xem tin theo ngày

Ngày Tháng Nam