Thứ ba,  15/10/2019

Nghị quyết 37 đạt 3 chỉ tiêu quan trọng, thay đổi diện mạo vùng trung du và miền núi Bắc Bộ

Sau 15 năm thực hiện, Nghị quyết số 37-NQ/TW của Bộ Chính trị về phương hướng phát triển kinh tế-xã hội và đảm bảo quốc phòng, an ninh vùng trung du và miền núi Bắc Bộ đã thúc đẩy tạo việc làm, giảm nghèo, nâng cao chất lượng nhân lực tại khu vực này.

Nghị quyết 37 đã tạo chuyển biến, thay đổi diện mạo vùng trung du và miền núi Bắc Bộ

 

Ngày 25/9 tại Hà Nội, Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội (LĐTB&XH) đã tổ chức Hội nghị tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyết số 37-NQ/TW ngày 1/7/2004 của Bộ Chính trị về phương hướng phát triển kinh tế-xã hội và đảm bảo quốc phòng, an ninh vùng trung du và miền núi Bắc Bộ.

Thứ trưởng Bộ LĐTB&XH Lê Tấn Dũng cho biết, sau 15 năm thực hiện Nghị quyết đã thúc đẩy tạo việc làm, giảm nghèo, nâng cao chất lượng nhân lực tại khu vực trung du và miền núi Bắc Bộ.

Cụ thể, 3 chỉ tiêu chủ yếu đã đạt được những kết quả quan trọng sau 15 năm thực hiện Nghị quyết. Trong đó, riêng về phát triển thị trường lao động, giải quyết việc làm giai đoạn 2005-2018, cơ bản hoàn thành tốt theo kế hoạch đặt ra. Cụ thể, giai đoạn 2006-2018, giải quyết việc làm cho 2,174 triệu lao động; 6 tháng đầu năm 2019, giải quyết cho 710.000 lao động. Hoạt động vay vốn tạo việc làm từ quỹ quốc gia về việc làm tiếp tục góp phần quan trọng hỗ trợ tạo và tự tạo việc làm cho người lao động.

Đáng chú ý, tỉ lệ nghèo các tỉnh của vùng giảm nhanh, từ 38,72% (2005) xuống còn 31,38% (2010); 25,77% (2015) và 15,82% (2018). Tỉ lệ nghèo ở các huyện nghèo giảm bình quân 5,5%/năm, các xã nghèo giảm bình quân từ 3-4%/năm. Đến hết năm 2018, toàn vùng có 7 huyện thoát nghèo và được Thủ tướng Chính phủ tặng Bằng khen, 72 xã đặc biệt khó khăn vùng dân tộc thiểu số và miền núi trong khu vực đạt chuẩn nông thôn mới.

Cùng với đó, việc tổ chức thực hiện chính sách trợ giúp các đối tượng xã hội có nhiều đổi mới. Đến năm 2018, vùng trung du miền núi phía bắc có gần 700.000 người hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng, kinh phí trợ giúp xã hội hằng tháng, cấp thẻ bảo hiểm y tế đạt gần 4.000 tỷ đồng. Có gần 5.000 đối tượng được nuôi dưỡng tại các cơ sở trợ giúp xã hội, với mức nuôi dưỡng bình quân 1,2 triệu đồng/người/tháng.

Bên cạnh đó, chất lượng và hiệu quả đào tạo trình độ các trình độ có bước chuyển biến tích cực, người học sau khi tốt nghiệp có việc làm đúng ngành, nghề đào tạo đạt tỉ lệ cao và có thu nhập ổn định. Đào tạo từng bước chuyển từ hướng “cung” sang hướng “cầu”, gắn với nhu cầu nguồn nhân lực, nhu cầu sử dụng lao động, góp phần đáp ứng nhu cầu nhân lực qua đào tạo và phát triển kinh tế-xã hội cho vùng. Tỉ lệ lao động nông thôn sau đào tạo có việc làm mới hoặc tiếp tục làm nghề cũ nhưng năng xuất, thu nhập cao hơn đạt 86,5%.

Theo Thứ trưởng Lê Tấn Dũng, để giảm nghèo bền vững, không để ai bị bỏ lại phía sau, Bộ LĐTB&XH đã đề ra những mục tiêu cụ thể đến năm 2030: Tỉ lệ lao động qua đào tạo đạt 70-75%; tỉ trọng lao động trong khu vực nông nghiệp giảm còn 45-50%. Phấn đấu hằng năm giảm bình quân 1,5% hộ nghèo (riêng các huyện nghèo/xã nghèo giảm 4%; hộ nghèo dân tộc thiểu số giảm 3-4%).

Đến năm 2030: 100% đối tượng gặp khó khăn đột xuất được trợ giúp kịp thời; nâng mức trợ cấp xã hội hằng tháng; có chính sách trợ giúp đối với trẻ em dưới 36 tháng tuổi, phụ nữ mang thai thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có hoàn cảnh khó khăn sống ở vùng núi, vùng hải đảo, vùng dân tộc thiểu số; tiếp tục mở rộng diện người cao tuổi không có lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội của Nhà nước được hưởng trợ cấp xã hội. 80% người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn được cung cấp dịch vụ trợ giúp xã hội phù hợp với nhu cầu, trong đó tối thiểu 50% đối tượng được cung cấp dịch vụ trợ giúp xã hội toàn diện.

Giai đoạn 2025-2030, phấn đấu nâng quy mô tuyển sinh đạt trên 4,6 triệu người mỗi năm; ít nhất 85% người học có việc làm hoặc có năng suất, thu nhập cao hơn sau đào tạo; có 70 trường được công nhận trường chất lượng cao, trong đó có tối thiểu 5 trường đạt cấp độ các nước phát triển trong nhóm G20; 40 trường tiếp cận cấp độ các nước ASEAN-4; phấn đấu có tối thiểu 20% cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập tự chủ về tài chính.

Theo Chinhphu