Chủ nhật,  17/01/2021

10 thành tựu nổi bật về lao động – thương binh và xã hội giai đoạn 2016-2020


Công tác chăm sóc người có công ghi nhiều dấu ấn trong giai đoạn 2016-2020 (Ảnh minh họa: Gặp mặt đại biểu Bà mẹ Việt Nam Anh hùng toàn quốc năm 2020 tại Hà Nội – Ảnh: Đăng Khoa).

Ngày 11-1, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đã công bố 10 thành tựu nổi bật trong 5 năm qua, được thể hiện trên nhiều lĩnh vực.

1. Tạo dấu ấn đặc biệt trong công tác xây dựng thể chế

Trong nhiệm kỳ 2016-2021, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đã tập trung thực hiện tốt đột phá chiến lược về xây dựng và hoàn thiện thể chế.

Cụ thể, đã tham mưu, trình Ban Chấp hành Trung ương ban hành Nghị quyết số 27-NQ/TW về cải cách chính sách tiền lương (phần khu vực doanh nghiệp) và Nghị quyết số 28-NQ/TW về cải cách chính sách bảo hiểm xã hội. Đây là những quyết sách quan trọng, đặt nền tảng thể chế về lĩnh vực lao động – việc làm (LĐ – VL)cho giai đoạn lâu dài về sau.

Bộ đã trình Quốc hội ban hành ba luật: Luật Trẻ em năm 2016, Bộ luật Lao động năm 2019; Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng (sửa đổi) năm 2020; trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua Pháp lệnh Ưu đãi người có công (NCC) (sửa đổi); trình Chính phủ ban hành 40 Nghị định, trình Thủ tướng Chính phủ ban hành nhiều Quyết định; ban hành theo thẩm quyền 119 Thông tư và trình thông qua ba Công ước quốc tế.

10 thành tựu nổi bật về lao động - thương binh và xã hội giai đoạn 2016-2020 -0
Các đại biểu Quốc hội tham gia biểu quyết thông qua Bộ luật Lao động năm 2019 (Ảnh: Duy Linh). 

Bộ luật Lao động năm 2019 được Quốc hội thông qua vào tháng 11 năm 2019 là dấu ấn lịch sử trong công tác xây dựng thể chế của Bộ, ngành, góp phần đổi mới quan hệ LĐ bảo đảm hài hòa quyền và lợi ích hợp pháp của cả người lao động (NLĐ) và người sử dụng LĐ; thực hiện đúng chủ trương xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và phù hợp hơn với các cam kết, thông lệ quốc tế về LĐ.

2. Gắn kết giáo dục nghề nghiệp – thị trường lao động – doanh nghiệp

Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, tiếp nhận chức năng quản lý nhà nước về giáo dục nghề nghiệp (GDNN) đối với các trường cao đẳng, trường trung cấp từ ngành giáo dục và đào tạo; hoàn thiện toàn bộ thể chế về lĩnh vực GDNN. Tổ chức thành công nhiều hội nghị triển khai công tác đào tạo nghề gắn với giải quyết VL trong và ngoài nước… đã giúp nhận thức về học nghề, phát triển GDNN trong toàn xã hội và người dân đã có chuyển biến mạnh mẽ. Vị thế, vai trò của hệ thống GDNN trong hệ thống giáo dục quốc dân được nâng cao.

Kết quả, tuyển sinh 5 năm đạt 11,1 triệu người. Tỷ lệ LĐ qua đào tạo tăng từ 51,6% lên 64,5%, trong đó, tỷ lệ LĐ qua đào tạo có bằng cắp, chứng chỉ tăng từ 20,29% lên 24,5% vào năm 2020. Nhân lực chất lượng cao tăng cả về số lượng và chất lượng. Trong đó, một số ngành nghề, lĩnh vực đạt trình độ khu vực và quốc tế, góp phần nâng cao năng suất LĐ và tăng cường năng lực cạnh tranh quốc gia trong tình hình mới.

3. Nhiều đột phá trong lĩnh vực người có công

Với quan điểm “tất cả NCC đều phải được hưởng chính sách”, trong những năm qua, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội tham mưu Ban Bí thư ban hành và tiếp tục triển khai có hiệu quả Chỉ thị số 14-CT/TW ngày 14-7-2017 về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác NCC với cách mạng. Trong những năm qua, Bộ đã tập trung chỉ đạo, triển khai một số nhiệm vụ mang tính đột phá, thực hiện chính sách ưu đãi NCC. Cụ thể:

Thứ nhất, nghiên cứu, ban hành và chỉ đạo hướng dẫn các địa phương thực hiện Quyết định số 408/QĐ-LĐTBXH ngày 20-3-2017 của Bộ trưởng Lao động – Thương binh và Xã hội về việc giải quyết hồ sơ tồn đọng đề nghị xác nhận NCC. Đã rà soát, giải quyết gần 6.800 hồ sơ tồn đọng trên cả nước.

Thứ hai, xây dựng, vận hành tốt Cổng thông tin điện tử về liệt sĩ, mộ liệt sĩ, nghĩa trang liệt sĩ tạo điều kiện thuận lợi để gia đình, thân nhân có thể thăm viếng, theo dõi khai thác thông tin trực tuyến, tìm mộ liệt sĩ trên cả nước; thực hiện Đề án xác định danh tính hài cốt liệt sĩ còn thiếu thông tin; hoàn thành hỗ trợ 493 nghìn nhà ở cho NCC với cách mạng có khó khăn về nhà ở theo Quyết định số 22/2013/QĐ-TTg ngày 26-4-2013 của Thủ tướng Chính phủ; lập Quy hoạch mạng lưới cơ sở nuôi dưỡng, điều dưỡng NCC với cách mạng thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050.

Thứ ba, Bộ chủ trì lần đầu tiên tổ chức Hội nghị gặp mặt, tuyên dương 500 thương binh nặng tiêu biểu toàn quốc; Hội nghị gặp mặt 300 Mẹ Việt Nam Anh hùng, thể hiện rõ sự quan tâm đặc biệt của Đảng và Nhà nước đối với NCC với cách mạng và thân nhân. Các cuộc gặp mặt đã để lại dấu ấn sâu sắc và sự đồng tình cao trong dư luận xã hội.

Bộ đã tổ chức hàng nghìn cuộc thanh tra về công tác người có công. Qua đó, phát hiện, xử lý sai phạm và kiến nghị thu hồi hàng trăm tỷ đồng từ việc thực hiện không đúng chính sách NCC, qua đó đem lại công bằng, niềm tin của gia đình, thân nhân NCC và nhân dân đối với chính sách ưu đãi NCC.

Nhìn chung, chế độ ưu đãi NCC đã được xây dựng và thực hiện tương đối toàn diện với nhiều điểm đột phá, ngoài trợ cấp còn có chế độ chăm sóc sức khỏe, cải thiện nhà ở, ưu đãi trong y tế, giáo dục đào tạo, sản xuất kinh doanh, tạo VL…

Ước đến cuối năm 2020, có 99,7% hộ gia đình NCC có mức sống bằng hoặc cao hơn mức sống trung bình của nhân dân nơi cư trú; 99,5% xã/phường/thị trấn làm tốt công tác thương binh, liệt sĩ, NCC; phấn đấu đến hết năm 2020 cơ bản hoàn thành việc hỗ trợ nhà ở đối với NCC với cách mạng và không còn hộ NCC thuộc diện hộ nghèo.

4. Giải quyết việc làm cho 8 triệu lao động

Cùng với nhiều giải pháp đồng bộ nhằm kết nối cung – cầu LĐ, giai đoạn 2015- 2020, các trung tâm dịch vụ việc làm (DVVL) đã tổ chức gần 6.000 phiên giao dịch VL, giới thiệu và cung ứng gần 5 triệu lượt người. 68,5% trong số đó có kết nối VL thành công.

Kết quả, cả nước đã giải quyết hơn 8 triệu VL, TTLĐ Việt Nam có sự chuyển biến tích cực. Cơ cấu LĐ chuyển dịch tích cực theo cơ cấu kinh tế; tỷ lệ thất nghiệp chung là 2,48% số người trong độ tuổi LĐ, khu vực thành thị luôn duy trì dưới 4%.

Nhiều giải pháp duy trì và phát triển các TTLĐ ngoài nước được tiếp tục thực hiện đồng bộ, mở mới nhiều thị trường tiềm năng ở châu Âu (Séc, Đức, Áo, Bulgari, Rumani). Trong cả giai đoạn 2016-2020, cả nước đưa khoảng 635 nghìn LĐ đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng (vượt chỉ tiêu 24%, về đích kế hoạch 5 năm trước một năm). Trong đó, số LĐ đưa đi năm 2019 đạt mức kỷ lục là hơn 150 nghìn người.

Năm 2020, do tác động tiêu cực của đại dịch Covid-19, TTLĐ có nhiều biến động, lực lượng LĐ có xu hướng giảm, số LĐ mất VL tiếp tục gia tăng dẫn đến tình trạng thất nghiệp diễn biến khó lường. Tỷ lệ thất nghiệp của lực lượng LĐ trong độ tuổi khu vực thành thị cao nhất trong 10 năm trở lại đây. Tỷ lệ thiếu VL tăng, thu nhập của người làm công hưởng lương giảm.

Tuy nhiên, bước sang quý IV năm 2020, TTLĐ Việt Nam bắt đầu phục hồi, nhiều lĩnh vực, ngành nghề, bị đứt chuỗi, bị ngừng việc đã trở lại thị trường. Việt Nam vẫn là một trong 10 quốc gia có tỷ lệ thất nghiệp thấp nhất thế giới.

5. Thành tựu về giảm nghèo Việt Nam được quốc tế ghi nhận

Giai đoạn 2016-2020, Việt Nam là một trong 30 quốc gia đầu tiên trên thế giới và là quốc gia đầu tiên của châu Á áp dụng chuẩn nghèo đa chiều. Lĩnh vực giảm nghèo tiếp tục được Quốc hội, Chính phủ quan tâm, ưu tiên bố trí nguồn lực đầu tư trung hạn để thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững.

Nhờ đó, công tác giảm nghèo giai đoạn này đã giúp nâng cao thu nhập, cải thiện cả đời sống vật chất và tinh thần cho người nghèo, người dân trên địa bàn nghèo, vùng đặc biệt khó khăn. Tỷ lệ hộ nghèo (theo chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều) của cả nước giảm từ 9,88% cuối năm 2015 xuống còn 2,75% vào cuối năm 2020, tỷ lệ hộ nghèo ở các xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển và hải đảo, các xã đặc biệt khó khăn, xã biên giới, xã an toàn khu vùng dân tộc và miền núi giảm khoảng 3-4%/năm; tỷ lệ hộ nghèo dân tộc thiểu số giảm bình quân 4%/năm. Thu nhập bình quân hộ nghèo đến cuối năm 2020 tăng gấp 1,6 lần so với năm 2015.

Việt Nam đã hoàn thành, về đích trước 10 năm so với MDG về giảm nghèo, được cộng đồng quốc tế ghi nhận và đánh giá cao.

6. Công tác trợ giúp xã hội ngày càng được mở rộng, diện bao phủ ngày càng lớn

Chính sách pháp luật về trợ giúp xã hội từng bước được hoàn thiện. Luật Người cao tuổi, Luật Người khuyết tật, Công ước của Liên hợp quốc về quyền của người khuyết tật và các chương trình, đề án trợ giúp đối tượng yếu thế được thực hiện đồng bộ; cấp thẻ bảo hiểm y tế cho 100% người cao tuổi, người khuyết tật…

Kết quả thực hiện các chương trình, chính sách trợ giúp xã hội đạt được những kết quả khả quan, thực hiện đúng mục tiêu mở rộng đối tượng và nâng cao mức trợ giúp xã hội cho đối tượng, bảo đảm các đối tượng có hoàn cảnh khó khăn được trợ giúp kịp thời, cơ hội tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản ngày càng tốt hơn.

Đến nay, chính sách trợ giúp xã hội đã bao phủ hầu hết các nhóm đối tượng ở mọi lứa tuổi, 3% dân số và 100% đối tượng bảo trợ xã hội đủ điều kiện được hưởng trợ cấp xã hội thường xuyên hằng tháng. Bảo đảm 100% người dân bị thiệt hại do thiên tai, lũ lụt, thiếu đói, dịch bệnh được trợ giúp đột xuất kịp thời, không người dân nào bị đói. Chăm sóc và phát huy tốt hơn vai trò người cao tuổi; người khuyết tật được trợ giúp phục hồi chức năng, đào tạo nghề và tạo VL nên đời sống được ổn định và có phần cải thiện. Mạng lưới cơ sở trợ giúp xã hội được củng cố, phát triển, đến nay cả nước đã thành lập được 425 cơ sở trợ giúp xã hội; nuôi dưỡng, chăm sóc tập trung cho khoảng trên 42 nghìn đối tượng.

Năm 2020, lễ tuyên dương 400 điển hình “Những tấm gương sáng thầm lặng vì cộng đồng” được tổ chức nhằm tôn vinh những tổ chức, cá nhân có thành tích đặc biệt trong công tác trợ giúp xã hội, phát triển cộng đồng, tạo hiệu ứng tốt trong xã hội.

7. Quyền cơ bản của trẻ em được tôn trọng và bảo đảm. Chỉ số Phát triển giới của Việt Nam nằm trong tốp 5 quốc gia cao nhất thế giới

Hệ thống pháp luật, chính sách về trẻ em từng bước được hoàn thiện, đồng bộ. Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đã hướng dẫn, hỗ trợ các địa phương thực hiện có hiệu quả Luật Trẻ em và các chương trình, đề án, dự án về bảo vệ, chăm sóc trẻ em; dịch vụ bảo vệ, chăm sóc trẻ em. Chính phủ đã thành lập Ủy ban quốc gia về trẻ em để giúp Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ thực hiện chỉ đạo, phối hợp, đôn đốc, điều phối giữa các bộ, ngành và địa phương để trẻ em ngày càng được hưởng đầy đủ hơn các quyền của mình trong đó có quyền phát triển và tham gia.

Cùng với đó, các giải pháp phòng, chống bạo lực, xâm hại trẻ em, phòng, chống tai nạn, thương tích trẻ em cũng được tăng cường. Tổng đài điện thoại quốc gia bảo vệ trẻ em 111 ngày càng phát huy vai trò tư vấn, hỗ trợ xử lý các tình huống, vụ việc mà trẻ em gặp phải, các kênh thông tin, truyền thông và các cơ quan chức năng bảo vệ trẻ em tăng lên rõ rệt.

Đến nay, cả nước có 6,2 triệu ngôi nhà thuộc các hộ gia đình có trẻ em đạt tiêu chí Ngôi nhà an toàn, 26.000 trường học đạt tiêu chuẩn Trường học an toàn, 6.000 xã, phường, thị trấn đạt tiêu chuẩn Cộng đồng an toàn.

Đến cuối năm 2020, 72% trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt được trợ giúp dưới các hình thức; 55% xã, phường, thị trấn đạt tiêu chuẩn phù hợp với trẻ em.

Giai đoạn 2016-2020, có khoảng gần 6 triệu lượt cán bộ làm công tác bình đẳng giới, vì sự tiến bộ của phụ nữ tại các bộ, ngành và địa phương được đào tạo, tập huấn nâng cao năng lực và nghiệp vụ. Nhờ đó, năng lực quản lý nhà nước về bình đẳng giới được nâng cao; nhận thức về bình đẳng giới, vì sự tiến bộ của phụ nữ có nhiều thay đổi, chuyển biến rõ rệt; khoảng cách bất bình đẳng giới dần được thu hẹp.

Vai trò và địa vị của phụ nữ được cải thiện, nâng lên rõ rệt. Tỷ lệ nữ lãnh đạo trong các cơ quan của Đảng, Quốc hội, Chính phủ và các cấp ủy, chính quyền địa phương tăng lên. Ngày càng có nhiều gương mặt nữ doanh nhân và nữ giám đốc điều hành tiêu biểu của Việt Nam được các Diễn đàn kinh tế thế giới ghi nhận và được tôn vinh là những doanh nhân quyền lực nhất châu Á – Thái Bình Dương.

Công tác đào tạo nghề, giải quyết VL cho LĐ nữ, đặc biệt ở khu vực nông thôn được chú trọng. Tỷ lệ LĐ nữ được học nghề theo chính sách của Đề án đào tạo nghề cho LĐ nông thôn chiếm trên 50% tổng số người được đào tạo; tỷ lệ LĐ nữ chiếm trên 48% tổng số người được giải quyết VL. Chỉ số phát triển giới của Việt Nam nằm trong nhóm 5 quốc gia cao nhất thế giới.

8. Triển khai Gói hỗ trợ an sinh xã hội 62 nghìn tỷ đồng trong dịch Covid-19

10 thành tựu nổi bật về lao động - thương binh và xã hội giai đoạn 2016-2020 -0
Chi trả tiền hỗ trợ Covid-19 cho người dân ở Hà Nội (Ảnh: Duy Linh). 

Năm 2020, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội chủ động phối hợp các bộ, ngành có liên quan trình Chính phủ thông qua Nghị quyết số 42/NQ-CP ngày 9-4-2020 về các biện pháp hỗ trợ người dân gặp khó khăn do đại dịch Covid-19; trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 15/2020/QĐ-TTg ngày 24-4-2020 quy định về việc thực hiện các chính sách hỗ trợ người dân gặp khó khăn do đại dịch Covid-19 và phối hợp với các bộ, ngành, địa phương triển khai thực hiện Gói hỗ trợ an sinh xã hội đến đúng đối tượng, nhanh chóng, kịp thời, hiệu quả.

Chính phủ và các địa phương trong đại dịch Covid-19 đã hỗ trợ 31,5 nghìn tỷ đồng, bảo đảm đời sống và hỗ trợ VL cho người dân, NLĐ. Trong đó, ngân sách chi trực tiếp hơn 12,9 nghìn tỷ đồng cho hơn 13 triệu người dân bị ảnh hưởng.

Gói hỗ trợ đó đã giúp đỡ nhiều người dân trong việc khắc phục ảnh hưởng của đại dịch Covid-19, tạo sự ủng hộ, lan tỏa sâu rộng trong xã hội.

Công tác tham mưu, đề xuất thực hiện các giải pháp của ngành lao động – thương binh và xã hội đã góp phần quan trọng trong thực hiện thành công “mục tiêu kép” vừa phòng, chống dịch bệnh, bảo vệ sức khỏe nhân dân, vừa phục hồi và phát triển kinh tế – xã hội trong trạng thái bình thường mới.

9. Hoàn thành tốt vai trò Chủ tịch Cộng đồng văn hóa xã hội ASEAN năm 2020

Trong những năm qua, thực hiện phân công của Chính phủ, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội tiếp tục thực hiện tốt vai trò đầu mối triển khai các hoạt động của Cộng đồng Văn hóa xã hội ASEAN, tiếp tục đẩy mạnh triển khai Chiến lược hội nhập quốc tế về LĐ và xã hội trong khuôn khổ song phương, đa phương, ASEAN và các tổ chức phi chính phủ.

Riêng trong năm Chủ tịch ASEAN 2020, mặc dù chịu tác động không nhỏ từ đại dịch Covid -19, song nhiều hoạt động vẫn được triển khai đúng tiến độ, tiết kiệm, hiệu quả. Trong đó, tổ chức Hội nghị Bộ trưởng trực tuyến của Cộng đồng văn hóa – xã hội ASEAN lần thứ 23 và 24 và các Hội nghị cấp quan chức liên quan; Hội nghị cấp cao của các Bộ trưởng Lao động ASEAN và các Bộ trưởng Giáo dục ASEAN về Phát triển Nguồn nhân lực cho thế giới công việc đang đổi thay; Hội nghị Bộ trưởng Lao động ASEAN và Bộ trưởng Lao động Phúc lợi Xã hội và Phát triển ASEAN đặc biệt về Covid-19; đồng thời bảo đảm được tiến độ xây dựng và nội dung của các văn kiện, tuyên bố quan trọng được Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 36 và 37 thông qua và ghi nhận.

Cùng với đó, các hoạt động hợp tác song phương, đa phương, phi Chính phủ tiếp tục được đẩy mạnh; tổ chức hai hội thảo trực tuyến với các đối tác Thụy Sĩ, Thái Lan, Malaysia và gần 100 doanh nghiệp FDI tại Việt Nam để trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm ứng phó tác động của dịch Covid-19 đối với LĐ-VL, an sinh xã hội; tham dự các cuộc họp trực tuyến về LĐ và VL trong khuôn khổ G20 với vai trò Chủ tịch ASEAN; thực hiện thủ tục phê chuẩn Hiệp định EVFTA và xây dựng kế hoạch triển khai sau khi phê chuẩn liên quan đến nội dung về LĐ.

10. Niềm tin của người dân về chính sách xã hội được nâng lên

Trong thời gian qua, có gần 14 nghìn lượt công dân được tiếp tại trụ sở của, đã tiếp nhận 27.435 đơn thư với 100% số đơn thư được xử lý theo thẩm quyền.

Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội cũng đã chú trọng triển khai thực hiện Chương trình tổng thể cải cách hành chính (CCHC) nhà nước giai đoạn 2011-2020, xây dựng Chương trình tổng thể CCHC nhà nước giai đoạn 2021-2030; Kế hoạch hành động thực hiện Nghị quyết số 02/NQ-CP ngày 1-1-2020 của Chính phủ về tiếp tục thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2020; Kế hoạch rà soát, đánh giá thủ tục hành chính (TTHC); Kế hoạch triển khai thực hiện Nghị quyết số 68/NQ-CP ngày 12-5-2020 của Chính phủ ban hành Chương trình cắt giảm, đơn giản hóa quy định liên quan đến hoạt động kinh doanh giai đoạn 2020-2025…

Chỉ số CCHC (Par Index) của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội từ vị trí thuộc tốp cuối (đầu nhiệm kỳ) đã vươn lên, đứng trong nhóm chín bộ, ngành cao nhất.

Báo cáo điều tra dư luận xã hội số 9989 ngày 5-1-2021 của Ban Tuyên giáo Trung ương cho thấy, niềm tin của nhân dân về bảo đảm an sinh xã hội, nâng cao phúc lợi xã hôi, thực hiện tốt chính sách NCC, tỷ lệ đánh giá tốt chiếm 72%; về xóa đói, giảm nghèo, tạo VL, thu nhập cho NLĐ, tỷ lệ đánh giá tốt chiếm 68%, tăng 13 bậc so với năm 2019.

Theo Nhandan