Thứ tư, 23/01/2019

Bộ luật Lao động sửa đổi sẽ luật hóa hoạt động cho thuê lại lao động

“Thị trường lao động Việt Nam sắp tới sẽ chứng kiến một số thay đổi lớn do Bộ luật Lao động sửa đổi có hiệu lực từ ngày 1/5/2013. Điều này sẽ luật hóa hoạt động cho thuê lại lao động, hay lao động phái cử. Song, do tính chất đặc biệt của mối quan hệ lao động này, lao động phái cử dễ bị bóc lột và lạm dụng, bị hạn chế về bảo hiểm xã hội, hạn chế  về công việc, cũng như có ít cơ hội đào tạo hơn người lao động trực tiếp".

“Thị trường lao động Việt Nam sắp tới sẽ chứng kiến một số thay đổi lớn do Bộ luật Lao động sửa đổi có hiệu lực từ ngày 1/5/2013. Điều này sẽ luật hóa hoạt động cho thuê lại lao động, hay lao động phái cử. Song, do tính chất đặc biệt của mối quan hệ lao động này, lao động phái cử dễ bị bóc lột và lạm dụng, bị hạn chế về bảo hiểm xã hội, hạn chế  về công việc, cũng như có ít cơ hội đào tạo hơn người lao động trực tiếp”.

Đây là phân tích của ông Yoon Youngmo, Cố vấn trưởng về Quan hệ Lao động của Tổ chức Lao động Quốc tế tại Việt Nam đưa ra ngày 22/4 khi mà Bộ luật Lao động sửa đổi của Việt Nam sắp có hiệu lực từ ngày 1/5/2013 tới đây.

Ông Yoon Youngmo cho rằng, Bộ luật Lao động sửa đổi, cùng một Nghị định đi kèm sắp được ban hành, sẽ mở đường cho sự phát triển của hoạt động kinh doanh này, đồng thời cũng là một hình thức lao động phổ biến ở các quốc gia phát triển cũng như nhiều nước đang phát triển khác.

Trên thế giới, cho thuê lại lao động là một phương thức sử dụng lao động linh hoạt và là cơ hội việc làm, đặc biệt đối với những công việc mang tính chất tạm thời. Một nghiên cứu tại 34 quốc gia (phần lớn ở các nước Âu-Mỹ) do Tổ chức quốc tế của các doanh nghiệp cho thuê lại lao động (CIETT) thực hiện cho thấy số lượng người lao động cho thuê lại tăng gấp đôi từ năm 1998 đến 2008. Chẳng hạn, ở Anh, lao động cho thuê lại chiếm 4% tổng số lực lượng lao động, với 80% trong khu vực dịch vụ và khu vực công.

 

 

 Ảnh minh họa. (Nguồn: vietnamnet.vn).

Tại Việt Nam, hình thức lao động này cũng đã có mặt từ lâu mặc dù luật pháp cho đến giờ mới chuẩn bị ghi nhận. Một số khảo sát quy mô nhỏ do Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội phối hợp với Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) tại Việt Nam thực hiện cho thấy lao động phái cử (người lao động do một doanh nghiệp tuyển dụng nhưng lại được “gửi” đến làm việc tại một doanh nghiệp khác) không chỉ tồn tại ở các công việc giản đơn mà còn có ở nhóm người lao động lành nghề có chuyên môn cao. Loại hình công việc khá rộng, từ nhân viên an ninh, giúp việc gia đình, dịch vụ nhà hàng, thủy thủ, khuân vác, công nhân sản xuất tay nghề thấp, cho tới phiên dịch, kế toán thuế, nhân viên marketing, bán hàng, quản lý nhân sự hay kỹ sư điện.

Trong khi hình thức lao động này khá phổ biến ở các tỉnh công nghiệp phía Nam, cho thuê lại lao động gần đây mới xuất hiện ở Hà Nội và các tỉnh phía Bắc. Theo khảo sát, TP. HCM đứng đầu cả nước với 59 doanh nghiệp liên quan đến dịch vụ này, một số có quy mô tới 2.000 lao động. Phí dịch vụ dao động từ 15 đến 25% lương của người lao động.

Đưa lao động phái cử vào Bộ luật Lao động sửa đổi là một bước đi bắt buộc bởi cần có những quy định hợp lý cho một hoạt động vốn đã phổ biến và có thể sẽ tiếp tục phát triển theo xu hướng toàn cầu cũng như nhu cầu của người sử dụng lao động.

Việc gia tăng hoạt động cho thuê lại lao động bắt nguồn từ chính nhu cầu của doanh nghiệp. Đối với nhiều doanh nghiệp nước ngoài tại Việt Nam, loại hình lao động này là một phần quan trọng trong phương thức kinh doanh của họ tại các nước khác. Đặc biệt, lao động phái cử càng có ý nghĩa lớn đối với những doanh nghiệp có quy mô sản xuất thay đổi nhiều tùy thuộc vào các thời điểm khác nhau trong năm. Phần lớn những công ty này duy trì một chiến lược toàn cầu là giữ số lượng lao động trực tiếp ở một mức tối thiểu. Trong những giai đoạn sản xuất tăng cường, họ dựa vào lực lượng lao động cho thuê lại ngắn hạn.

Một lý do khác khiến nhiều doanh nghiệp thích hình thức lao động này xuất phát từ những vị trí ngắn hạn không đòi hòi công ty phải duy trì nhân viên thường xuyên. Dịch vụ kế toán cho báo cáo tài chính hoặc phiên dịch là những ví dụ điển hình.

Những quy định mới sẽ đưa ra những tiêu chí và hướng dẫn rõ ràng cho việc thành lập và điều hành những doanh nghiệp kinh doanh lao động cho thuê lại, cũng như quyền và nghĩa vụ của người thuê và sử dụng lao động và của người lao động.

Trên thị trường có thể sẽ diễn ra quá trình sáp nhập các doanh nghiệp cho thuê lại lao động quy mô nhỏ vốn đã tồn tại từ trước bởi luật chỉ cho phép các doanh nghiệp “lớn hơn” với vốn điều lệ tối thiểu là 2 tỷ đồng và 1 tỷ đồng đặt cọc. Nếu không đáp ứng được điều kiện này, các doanh nghiệp sẽ phải phải đóng cửa.

Các quy định mới đồng thời yêu cầu rõ ràng về quyền và nghĩa vụ giữa công ty cho thuê lại lao động và công ty sử dụng lao động cho thuê lại, giữa công ty cho thuê lại lao động và người lao động (được gửi đi làm việc ở một công ty khác), và giữa “công ty sử dụng lao động” và người lao động cho thuê lại. Công ty cho thuê lại lao động sẽ phải chịu những trách nhiệm căn bản của người chủ sở hữu lao động đối với người lao động như quy định của Bộ luật Lao động sửa đổi. Công ty cho thuê lại lao động và công ty sử dụng lao động cho thuê lại sẽ phải chia sẻ trách nhiệm về các vấn đề liên quan đến an toàn lao động và bồi thường.

Luật hóa hình thức lao động mới này có thể giúp đáp ứng nhu cầu của nhiều doanh nghiệp, nhất là đối với kế hoạch sử dụng lao động linh hoạt, cho phép doanh nghiệp dễ dàng điều chỉnh nhu cầu về lao động trong thời gian ngắn và tiết kiệm các chi phí tuyển dụng cũng như những chi phí hành chính khác.

Đây cũng là một giải pháp để một bộ phận lao động kỹ năng thấp có thể gia nhập thị trường lao động, tích lũy kinh nghiệm, học hỏi các năng mới, và là bước đệm để tiến tới được tuyển dụng trực tiếp.

Nghị định hướng dẫn sắp được ban hành sẽ gồm nhiều quy định chi tiết khác. Nghị định được cho là sẽ chỉ cho phép cho thuê lại lao động ở 17 nhóm ngành nghề như phiên dịch, kế toán, lái xe, nhân viên an ninh, nhân viên vệ sinh hay nhân viên bán hàng. Chính phủ quyết định khởi đầu hình thức lao động này theo một cách thận trọng, ở quy mô nhỏ, bởi nó tiềm tàng nhiều vấn đề có thể ảnh hưởng tới chất lượng việc làm, đặc biệt trong bối cảnh thực thi luật và năng lực thanh tra còn hạn chế.

Do tính chất đặc biệt của mối quan hệ lao động này, lao động phái cử dễ bị bóc lột và lạm dụng, bị hạn chế về bảo hiểm xã hội, sự đảm bảo về công việc, cũng như có ít cơ hội đào tạo hơn người lao động trực tiếp. Ở nhiều nước châu Á khác, người lao động cho thuê lại phải nhận mức lương thấp (thấp hơn nhiều so với lao động trực tiếp làm cùng một ngành nghề), chịu điều điều kiện làm việc không đảm bảo và bị phân biệt đối xử tại nơi làm việc.

Khảo sát tại Việt Nam đã cho thấy, một số vấn đề thực tế trong hoạt động cho thuê lại lao động, bao gồm việc trả lương đúng hạn, làm việc quá giờ, thời giờ làm việc, nghỉ phép hay bảo hiểm mà cả doanh nghiệp cho thuê lại lao động và doanh nghiệp sử dụng lao động đều không chịu trách nhiệm.

Tuy nhiên, Chính phủ có thể sẽ mở rộng lao động phái cử sang các loại hình công việc khác trong tương lai khi họ đủ tự tin sau một vài năm áp dụng, nhất là khi rất nhiều công ty đang kêu gọi việc mở rộng này. Nhưng do đã thấy rõ những khó khăn trong việc thực hiện cho thuê lại lao động ở các nước trong khu vực như Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Indonesia, Chính phủ Việt Nam có lẽ sẽ tiếp tục thận trọng, để đảm bảo rằng quyền lợi chính đáng của cả người lao động và người sử dụng lao động đều được bảo vệ.

Dangcongsan