Chủ nhật,  25/08/2019

Ðiểm tựa của phong trào trong các buôn làng

Thời gian qua, người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Phú Yên có nhiều đóng góp tích cực, thiết thực trong việc vận động bà con trong dòng tộc, đồng bào các dân tộc thiểu số chấp hành tốt chủ trương, đường lối của Ðảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Họ là những người đi đầu, là chỗ dựa cho các phong trào như phát triển sản xuất, ứng dụng KHKT, xóa đói, giảm nghèo, đoàn kết vượt khó, xây dựng gia đình văn hóa, thôn, buôn văn hóa.
Già làng La Chí Thái ở xã Xuân Lãnh (Đồng Xuân, Phú Yên) bào chế thuốc từ cây rừng, chữa bệnh cứu người.

Thời gian qua, người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Phú Yên có nhiều đóng góp tích cực, thiết thực trong việc vận động bà con trong dòng tộc, đồng bào các dân tộc thiểu số chấp hành tốt chủ trương, đường lối của Ðảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Họ là những người đi đầu, là chỗ dựa cho các phong trào như phát triển sản xuất, ứng dụng KHKT, xóa đói, giảm nghèo, đoàn kết vượt khó, xây dựng gia đình văn hóa, thôn, buôn văn hóa.

Hết lòng vì cộng đồng

Phú Yên có 31 dân tộc sinh sống, với khoảng hơn 52.000 người, chủ yếu là dân tộc Ê Ðê, Chăm, Ba Na, Tày, Nùng… tập trung tại ba huyện miền núi Sông Hinh, Sơn Hòa, Ðồng Xuân. Trong đó, những người có uy tín, các già làng, trưởng thôn, buôn tại các địa phương là cầu nối, mối dây liên kết giữa ý Ðảng với lòng dân.

Nơi vùng cao Phú Mỡ huyện miền núi Ðồng Xuân (Phú Yên) có một già làng mà cách nghĩ, cách làm của ông đã vượt cao quá ngọn núi La Hiên hùng vĩ, với một ước mơ cháy bỏng là giúp đồng bào trong vùng vượt qua đói nghèo. Bao đời nay, đồng bào dân tộc Chăm ở xã vùng cao heo hút này bị bao bọc bởi bốn bề là núi, chỉ quen với chiếc gùi, cái rựa trên vai chuyên phát rừng làm rẫy. Mỗi năm, có hàng trăm ha rừng bị mất đi, nhưng cũng không thoát được nghèo đói. Nhiều nhà trước đây không có gạo nấu phải đào củ nầng trên rừng để nấu thay cơm. Trước thực trạng đó, đêm đêm già làng Ma Nghĩa cứ thao thức một điều: Tại sao không kêu gọi dân làng mình bắt chước người miền xuôi trồng cây lúa nước? Ðể kiểm chứng hiệu quả thực tế, ông đã tự mình đi khai hoang, tận dụng các khe suối đắp các đập nhỏ, khai mương dẫn nước về đồng để làm lúa nước. Ban đầu chỉ có vài sào, rồi diện tích lúa nước gia đình ông tăng lên 2,5 ha. Từ đó, gia đình Ma Nghĩa đã có của ăn của để. “Nhà mình no cái bụng không chưa đủ, phải biết nghĩ đến đồng bào mình, làng xóm mình cùng no” – Ma Nghĩa nghĩ và nói, ông đã làm, đã lo cho dân làng từ nhiều năm về trước. Các anh trong Ðảng ủy và UBND xã Phú Mỡ cho biết, mười năm trước, từ Chương trình 135 ưu tiên xã đặc biệt khó khăn, huyện Ðồng Xuân đầu tư 250 triệu đồng xây dựng trạm bơm điện đặt tại buôn Phú Lợi. Có trạm bơm, nhưng nhiều người chưa có đất sản xuất. Già làng Ma Nghĩa báo với cán bộ xã, tổ chức họp dân bàn chuyện tìm đất. Trong lúc các cán bộ xã đang lúng túng thì Ma Nghĩa đã trình bày cách làm chưa ai nghĩ đến. Tất cả ruộng đất từ trước đến nay ở cái buôn Phú Lợi này nhà nào làm bao nhiêu không biết, ai nhiều ít không bàn, tất cả đều là của chung, đem chia đều cho bà con làm lúa nước.

Một cuộc cách mạng về việc chia đều ruộng đất cho dân làng làm lúa nước thật sự diễn ra ngay từ giữa năm 2003 khi công trình Trạm bơm điện Phú Lợi được nghiệm thu đưa vào sử dụng. Muốn dân tin, làm theo thì mình làm trước rồi mới nói, làm có hiệu quả rồi nói dân mới tin. Gia đình ông Ma Nghĩa có tất cả 2,5 ha ruộng lúa nước, 3,5 ha đất vườn và ở, cộng lại tất cả là 6 ha. Ông đã đem chia tất cả cho bà con trong buôn. Phần gia đình cũng chỉ nhận đúng số diện tích được chia đều như bà con. Theo gương ông Ma Nghĩa, những người khác trong buôn có nhiều đất như Oi Ruồi, Oi Quí, Ma Vân, Ma Phọm và nhiều người khác nữa cũng đem ruộng đất nhà mình ra chia đều cho cả buôn. Ruộng được chia theo nhân khẩu, nhà nhiều thì được nhiều, nhà ít được nhận ít, không có sự ưu tiên, ưu ái nào khác. Từ đó, tất cả 82 hộ dân của buôn Phú Lợi đều có diện tích lúa nước. Gia đình ít thì một sào, nhiều thì được vài ba sào lúa. Phong trào làm lúa nước của xã Phú Mỡ nhanh chóng nhân rộng. Từ đó, xã vùng cao Phú Mỡ đang vươn lên từng ngày.

Ðược anh Mười Trung, Trưởng ban Dân tộc huyện Ðồng Xuân giới thiệu, tôi tìm đến nhà ông La Chí Thái, người dân tộc Ba Na ở làng Xí Thoại, xã Xuân Lãnh, huyện Ðồng Xuân. Mùa này ở đây mưa dầm, trời se lạnh. Trong căn nhà sàn ấm áp, già Thái tâm sự nhiều chuyện về việc nhà, việc làng. Ông cho biết, làng Xí Thoại là mô hình làng văn hóa đầu tiên của cộng đồng người dân tộc thiểu số ở Phú Yên. Do đó, với vai trò là một già làng, một người có uy tín, ông đã vận động bà con ăn ở theo nếp sống văn minh, hiện đại. Ðặc biệt, ông là người biết bào chế thuốc từ cây, củ, lá rừng để chữa bệnh, cứu người và được mệnh danh là “thầy thuốc của buôn làng”. Già Thái kể, ông nội, rồi cha ông từ xưa là người biết làm thuốc bằng cây rừng. Lúc nhỏ ông theo cha lên rừng hái thuốc. Học được ở cha mình, khi chiến tranh, lên rừng đi bộ đội, ông đã đi hái thuốc chữa trị cho anh em. Hiệu quả nhất là những cây, củ thay thuốc kháng sinh để chữa trị các vết thương và những căn bệnh sốt rét cho bộ đội và dân làng. Ðó cũng là những năm tháng ông La Chí Thái học được nhiều ở cha mình về những cây thuốc và cách chế biến thuốc từ những cây rễ, lá rừng. Sau đó, được học một lớp y tá cứu thương và một năm theo học lớp trung y dược, cùng với sự trải nghiệm qua 20 năm phục vụ chữa thương cho bộ đội thời chống Mỹ; nhờ đó tích lũy dần “vốn liếng” kiến thức làm thuốc, bắt bệnh để hôm nay trở thành thầy thuốc của buôn làng. Mỗi người bệnh khi đến với ông thường mang theo bệnh án, theo đó ông bốc thuốc và chỉ cách làm. Già Thái trăn trở, giờ cây thuốc cũng hiếm lắm rồi. Tình trạng phát rừng, trồng rừng theo kiểu ” cạo trọc” đã tận diệt nhiều loại cây thuốc quý. Gặp người bệnh có gia cảnh nghèo túng, nhất là người dân tộc thiểu số thì ông biếu không, không màng tới tiền nong. Tiếng lành đồn xa, bệnh nhân từ khắp nơi đổ về, già Thái vẫn miệt mài bốc thuốc cứu người. Ngoài ra, ông còn vận động dân làng phá bỏ tập quán chăn nuôi gia súc dưới gầm nhà sàn, ăn uống kém vệ sinh. Ông cũng là người đầu tiên xây nhà tắm, nhà vệ sinh và thực hiện ăn chín, uống chín. Các tập tục lạc hậu trong ma chay, cúng bái trong làng đã bỏ từ lâu. Ở cái tuổi xấp xỉ 80, nhưng nhìn ông cầm cái rựa vạc cây rừng làm thuốc vẫn còn vững vàng, trong nụ cười nhân hậu ai thấy cũng mơ ước.

Có một người con của núi rừng miền tây Phú Yên cũng đang dồn công sức để giúp cộng đồng người dân tộc thiểu số Chăm H&#39Roi. Ðó là ông Ka Sô Liễng, nhà nghiên cứu văn hóa dân gian ở xã Ea Chà Rang, huyện Sơn Hòa. Nhiều năm qua, ông lặng lẽ đi tìm chữ viết cho người dân tộc Chăm H&#39Roi. Ðiều khác với nhiều người, năm 1998, sau khi nghỉ hưu, ông Ka Sô Liễng, nguyên Phó Giám đốc Sở Văn hóa Thông tin tỉnh Phú Yên từ thành phố Tuy Hòa đã về lại buôn Kiến Thiết, xã Ea Chà Rang, huyện Sơn Hòa sống cùng bà con. Ông nói rằng, đây là nơi mình đã sinh ra, lúc đi làm cách mạng đến giờ mới có điều kiện giúp cho bà con, cho dân tộc mình những việc có ý nghĩa. Việc đầu tiên khi về lại với núi rừng là ông làm rẫy, trồng cây. Hằng ngày, người ta thấy ông già cứ cần mẫn đào, cuốc, rồi trồng. Chẳng bao lâu, ông đã có một trang trại rộng hơn năm ha. Trong đó, mảnh vườn sau nhà của vợ chồng ông đã có nhiều loại cây, đều đã ra hoa, kết trái trĩu quả như chuối, đu đủ, thơm, xoài, cam… Ông tâm sự, muốn nghiên cứu văn hóa các dân tộc thiểu số, chỉ có chung sống với đồng bào địa phương mới làm được. Từ lâu ông Ka Sô Liễng luôn day dứt tại sao người Chăm H&#39Roi không có chữ viết. Từ chữ Ê Ðê được học, dựa trên mẫu tự Latin, ông Ka Sô Liễng bắt đầu tìm hiểu và sáng tạo ra chữ viết cho người Chăm H&#39Roi. Tháng 6-2010, bộ chữ Chăm H&#39Roi của ông Ka Sô Liễng cơ bản hoàn chỉnh. Ông bắt đầu dạy cho người dân trong buôn học chữ. Sau đó, ông bắt tay vào viết sách. Một số đầu sách Chi Bri- Chi Brít, Tiếng cồng ông bà HBia Lơ Ðă, HBia Ta Lúi – Kalipu, Anh em Chư BLưng song ngữ Việt – Chăm lần lượt ra đời. Sách ông viết được in bằng hai thứ chữ Quốc ngữ và Chăm H&#39Roi. Ðến cuối năm 2010, chương trình phát thanh tiếng Chăm H&#39Roi được UBND tỉnh Phú Yên cho phép phát sóng, thời lượng hai lần/tuần. Ông Ka Sô Liễng đảm nhận vai trò biên dịch và phát thanh viên. Ðầu năm 2011, ông mạnh dạn gửi bộ chữ viết Chăm H&#39Roi do mình sáng tạo đến Viện Ngôn ngữ học Việt Nam để thẩm định, với mong muốn bộ chữ viết này được đưa vào giảng dạy cho con em đồng bào Chăm trong tỉnh.

Phát huy vai trò người có uy tín, tiêu biểu

Trưởng ban Dân tộc tỉnh Phú Yên Phan Hữu Ðại cho biết, ở Phú Yên hiện có 116 người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số được hưởng chính sách ưu đãi của Nhà nước. Hàng trăm già làng, trưởng thôn buôn khác cũng được chính quyền địa phương quan tâm chăm sóc. Hằng năm, người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số được cung cấp đầy đủ những văn bản hướng dẫn mới ban hành của Ðảng, Nhà nước; tiếp cận thông tin về tình hình, nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội và bảo đảm quốc phòng – an ninh ở địa phương; được cấp miễn phí một số đầu báo; được thăm hỏi, hỗ trợ khi ốm đau nhân dịp lễ, Tết và khi gia đình gặp khó khăn, hoạn nạn.

Thời gian qua, những người tiêu biểu trong đồng bào dân tộc thiểu số ngày càng phát triển từ trong các phong trào quần chúng, những người tiêu biểu đã gương mẫu đi đầu trong việc chấp hành mọi chủ trương, đường lối, chính sách của Ðảng và pháp luật của Nhà nước, tích cực vận động đồng bào định canh, định cư, khai hoang, phục hóa, tham gia cuộc vận động di dân tái định cư để lấy đất xây dựng các công trình giao thông, thủy điện, thủy lợi, phát triển sản xuất chăn nuôi, xóa đói, giảm nghèo, xây dựng nếp sống văn hóa mới, đẩy lùi và xóa bỏ những thủ tục lạc hậu mê tín, dị đoan.

Nhiều hộ gia đình tiêu biểu đã mạnh dạn đầu tư phát triển kinh tế trang trại sản xuất nông lâm kết hợp, mua sắm máy móc phục vụ sản xuất, kinh doanh đem lại hiệu quả cao, nhiều hộ có thu nhập hàng trăm triệu đồng/năm. Ðiển hình như hộ gia đình ông Ma Ðuông, Ma Nhứt, Ma Bay, Ma Min, Bàn Nguyên Thành ở huyện Sông Hinh; Ma Buôn, Ma Lia, Ma H&#39Téo, Ma Hùng, Ma Tý, Ma Tim, Ma Thưng, Y Cảnh, Y Bốn… ở huyện Sơn Hòa; Ma Yểm, La Văn Lung, Ma Nghĩa ở huyện Ðồng Xuân… Phong trào thi đua thực hiện Cuộc vận động Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư đã phát triển ngày càng sâu rộng, lan tỏa và trở thành nhu cầu của đồng bào các dân tộc thiểu số. Trong đó, vai trò của các già làng là lực lượng nòng cốt, góp phần phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm an ninh, được nhân dân kính trọng và tin yêu. Tiêu biểu như: Già làng Ma Nghĩa ở xã Phú Mỡ, Ma Hiếu ở xã Xuân Quang 2, Ðoàn Văn Giáo ở xã Ða Lộc (huyện Ðồng Xuân); Ma H&#39Dốch xã EaLâm, Ma Riêng ở xã EaBá, Ma Hong – xã EaLâm, Ma Vi – xã EaBia (huyện Sông Hinh); Ma Ủy ở xã Cà Lúi, Ma Màng ở xã Phước Tân (huyện Sơn Hòa). Trong tình hình mới, các thế lực thù địch tiếp tục thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình” để chống phá nước ta về nhiều mặt, nhất là kích động biểu tình để gây bạo loạn ở một số tỉnh Tây Nguyên. Nhưng với lòng son sắt trước sau như một, trung thành tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Ðảng, cộng đồng các dân tộc đã phát huy sức mạnh đoàn kết, đề cao cảnh giác, kiên quyết không nghe theo lời kẻ địch kích động, xúi giục, gây chia rẽ, sẵn sàng đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu thâm độc của kẻ thù, giữ vững sự ổn định về an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở địa bàn miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Theo Trưởng ban Dân tộc huyện Ðồng Xuân Phạm Văn Trung, thời gian qua, nhiều già làng, trưởng thôn, buôn trên địa bàn xã đã tích cực tham gia cùng với chính quyền địa phương giải quyết một cách nhanh chóng, ổn thỏa, không dây dưa kéo dài nhiều vụ việc tranh chấp, mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân. Những người này còn chung tay cùng địa phương giáo dục bà con không nghe và không làm theo lời kẻ xấu, những điều trái pháp luật; tuyên truyền cho bà con hiểu được chủ trương, đường lối của Ðảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; vận động bà con và gia đình xây dựng khối đoàn kết ở khu dân cư, gia đình văn hóa.

Các già làng, trưởng thôn, buôn và cá nhân tiêu biểu trong đồng bào các dân tộc thiểu số ở Phú Yên ngày càng phát huy tính gương mẫu trong các cuộc vận động, các phong trào thi đua yêu nước. Những suy nghĩ hành động, việc làm của họ đều có ảnh hưởng, tác động đến tâm tư tình cảm của bà con đồng bào các dân tộc trong cộng đồng, hướng đến mục tiêu xây dựng thôn, buôn giàu mạnh, dân chủ văn minh.

Theo Nhandan.vn