Chủ nhật,  28/11/2021

Không phải là huyền thoại

Ghi chépLSO- Nằm ẩn mình dưới ngọn Công Sơn cao vút là Nông lâm trường 196 thuộc Đoàn kinh tế quốc phòng 338. Kể từ khi đứng chân thực hiện nhiệm vụ kinh tế, an dân nơi biên giới, các anh đã biến những mơ ước, huyền thoại của người dân thành hiện thực.Cán bộ Nông lâm trường 196 Đoàn kinh tế quốc phòng 338 chăm sóc vườn ươm, cấp giống cho dânCon đường lầy lội, vượt qua những cây cầu vắt ngang suối khiến chiếc xe hai cầu cứ xoay ngang xoay dọc. Hết trơn lầy rồi giật cục tung hứng, những người trong xe như đang bị người khổng lồ nào đó bỏ vào trong ống bơ mà xóc. Và cứ trơn trượt, xóc như thế gần 4 tiếng đồng hồ, vượt 40 cây số chúng tôi mới đến được Nông lâm trường 196. Đường đi như vậy nên tất cả những dự định, lịch làm việc của chúng tôi bị đảo lộn, bởi anh lái xe cứ chủ quan 40 cây số quá lắm đi 1 tiếng đồng hồ, thế nhưng ở đây đúng là “khác đi khác đến”. Đón chúng tôi Trung tá Trần Đăng Sơn,...

Ghi chép

LSO- Nằm ẩn mình dưới ngọn Công Sơn cao vút là Nông lâm trường 196 thuộc Đoàn kinh tế quốc phòng 338. Kể từ khi đứng chân thực hiện nhiệm vụ kinh tế, an dân nơi biên giới, các anh đã biến những mơ ước, huyền thoại của người dân thành hiện thực.





Cán bộ Nông lâm trường 196 Đoàn kinh tế quốc phòng 338 chăm sóc vườn ươm, cấp giống cho dân

Con đường lầy lội, vượt qua những cây cầu vắt ngang suối khiến chiếc xe hai cầu cứ xoay ngang xoay dọc. Hết trơn lầy rồi giật cục tung hứng, những người trong xe như đang bị người khổng lồ nào đó bỏ vào trong ống bơ mà xóc. Và cứ trơn trượt, xóc như thế gần 4 tiếng đồng hồ, vượt 40 cây số chúng tôi mới đến được Nông lâm trường 196. Đường đi như vậy nên tất cả những dự định, lịch làm việc của chúng tôi bị đảo lộn, bởi anh lái xe cứ chủ quan 40 cây số quá lắm đi 1 tiếng đồng hồ, thế nhưng ở đây đúng là “khác đi khác đến”. Đón chúng tôi Trung tá Trần Đăng Sơn, Trưởng Ban tham mưu kế hoạch ra tận xe và ôm chầm lấy mọi người. Lính là thế, nhất là nơi đèo heo hút gió này, mấy khi có khách mà nhất là khách đồng hương tận tỉnh vào. Cái sự ồn ào làm mấy anh em thanh niên tình nguyện mới nhập ngũ cứ ngơ ngơ ngác ngác, chắc họ nghĩ; quái, mấy cái ông này việc gì mà phải ôm nhau giữa trời mưa, việc gì mà phải xúc động như khóc… Ấy là tôi nghĩ thế. Nhưng chắc gì các em biết khi các anh đặt chân lên đây, cũng là lúc có chúng tôi, và chính chúng tôi đã chứng kiến bao đổi thay trên mảnh đất này, có những chuyện như trong huyền thoại. Nhớ thời khi đơn vị chuyển sang làm kinh tế với mục đích an dân nơi biên giới, khi ấy anh Thu làm giám đốc Nông lâm trường, anh Tiện, anh Hộ, anh Thuý, anh Sơn còn ở các đội sản xuất, cái khó nhất là vận động nhân dân. Thôi thì biên giới rừng rộng người thưa, đưa chương trình trồng rừng phòng hộ để vận động người dân, giống cấp, hiện trường bộ đội thiết kế, tưởng mọi việc như thế đã sẵn sàng thế nhưng khi bắt đầu ra quân, trống giong cờ mở ở các xã Cao Lâu, Xuất Lễ, Công Sơn thì người dân không làm. Anh Hộ xuống vận động thì họ chỉ lẳng lặng bỏ đi, có nhà cửa đóng im ỉm và từ trong nhà họ nhìn ra đợi bộ đội đi họ mới mở cửa. Cứ thế cả tuần. Không thể để công, cây, hiện trường thành công cốc anh em chia nhau đi tìm hiểu, may có anh trưởng thôn ấp úng: “Chúng tao không làm vì trồng cho bộ đội, sau này bộ đội chặt cây chứ tao có được đâu”. Thế là bắt được bệnh, anh em chia nhau xuống các bản, Co Chí, Ba Sơn, Thạch Khuyên, Bản Vàng, Co Sâu vận động, rồi một nhà nghe ra họ làm, làm đến đâu bộ đội nghiệm thu, thanh toán đến đấy, thấy cái lợi của bộ đội mang lại mấy xã bắt đầu làm theo và thực sự đã trở thành phong trào. Cho đến nay dải rừng biên giới thuộc 2 huyện Cao Lộc, Lộc Bình do 196 phụ trách đã thành một dải khăn xanh với 1.091 ha rừng phòng hộ. Từ rừng phòng hộ có gia đình thu 30 triệu đồng mỗi năm từ khâu chăm sóc như anh Lý Văn Tống, Lý Văn SLáy. Còn tiền nhựa thông có hộ thu cả trăm triệu đồng. Lòng tin của dân với bộ đội được củng cố. Với mục tiêu hình thành các làng bản biên giới, Nông lâm trường đã xây dựng 20 căn nhà thuộc Pò Nhùng, Bắc Lệ, khi xây xong lại tưởng những ngôi nhà khang trang như thế sẽ được người dân hồ hởi đón nhận. Nhưng không, 1 năm, 2 năm dân vẫn chưa vào, vận động đã có, đăng ký đã có nhưng những mái nhà vẫn trơ trơ vắng khói lam chiều. Một lần nữa lại vận động, thậm chí còn xem ngày đại cát hộ, và bộ đội phải xắn tay cùng dân dọn dẹp, đốt lửa đuổi tà, quan niệm nhiều hộ dân quen nếp cũ “con ma” không muốn đi chỗ mới, vậy thì cho cả “con ma” đi, bà con nghe theo giờ đây các bản biên giới đã rộn rã tiếng hát then từ Rađiô, và mãi tận giờ anh Phạm Xuân Khiển, Chính trị viên mới thở phào. Chưa hết, ngay bản Ngoã, cách Nông trường bộ có vài trăm mét, nhưng người dân vẫn dùng nước gánh từ suối, không bể lọc mưa thì ăn nước mưa. Thấy vậy bộ đội lại cùng dân xây bể, chỉ tính riêng bản Ngoã đã có tới 6 bể trữ nước nối về từng nhà, nhìn dòng nước mát lành theo đường ống về tận nhà, cả bản mới trầm trồ: “Bộ đội hơi bị khôn, nó biết lấy nước vào ống”. Rồi cấp giống bò, cây trồng, hướng dẫn kỹ thuật canh tác, cùng với sự thành công hôm nay là mối hoài nghi cuả ngày hôm qua, nhưng khi hoài nghi ấy được cởi bỏ, người dân tin thì việc gì cũng chạy. Cho tới hôm nay dân với Nông lâm trường đã là một.



Cán bộ Nông lâm trường 196 cùng nhân dân khảo sát xây dựng tuyến mương Co Chí

Thượng tá Phạm Xuân Khiển cho biết, cái xe U oát của đơn vị như một con ngựa già nhưng hành trình chở dân khám chữa bệnh có tuần 4 ca, cho tới giờ trạm xá như một trung tâm y tế khu vực. Và hơn thế một điều chúng tôi được mắt thấy tai nghe là cứ nghe tiếng kèn te te của bộ đội nhân dân cũng học làm theo. Anh Hoàng Hải Anh tâm sự, cứ thấy bộ đội kèn dậy mình cũng dậy, ngủ cũng ngủ. Đơn giản có thế thôi nhưng để thay đổi tập quán của người dân miền núi đâu phải ai cũng làm được. Lại với cái vẻ khiêm tốn anh Khiển cười thật hiền: “Thôi chú đừng viết, đã làm được gì đâu”.
Đêm biên giới như đổ xuống nhanh hơn, đứng giữa Nông trường bộ nhìn ra rừng đêm như thẫm lại, lốm đốm vệt sáng của hoa thông làm núi rừng bớt buồn vắng. Người lính Nông lâm trường 196 bắt đầu chuẩn bị cho công việc của ngày mai.



Nguyễn Đông Bắc