Chủ nhật,  25/09/2022

Bình đẳng giới – sau năm năm thực hiện luật

PGS, TS Vũ Thị Thu Hà (Viện Hóa học Công nghiệp Việt Nam) vinh dự được nhận giải thưởng Cô-va-lép-xcai-a dành cho những nhà khoa học nữ có thành tích xuất sắc trong nghiên cứu khoa học tại Việt Nam năm 2011. Trong ảnh: PGS, TS Vũ Thị Thu Hà cùng đồng nghiệp làm việc tại phòng nghiên cứu. ( Ảnh: NGUYỄN Á )Luật Bình đẳng giới được Quốc hội khóa XI, thông qua ngày 29-11-2006 và có hiệu lực thi hành từ ngày 1-7-2007, quy định nguyên tắc bình đẳng giới trong các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình; biện pháp bảo đảm bình đẳng giới và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân trong việc thực hiện bình đẳng giới. Năm năm qua, việc thực hiện Luật đã đạt được một số thành tựu, tuy nhiên vẫn còn một số khó khăn, thách thức ảnh hưởng đến mục tiêu bình đẳng giới.Sau năm năm thực hiện, các quy định của Luật đã được triển khai tương đối đồng bộ từ trung ương đến địa phương, góp phần nâng cao nhận thức và ý thức bảo đảm bình đẳng giới trong...

PGS, TS Vũ Thị Thu Hà (Viện Hóa học Công nghiệp Việt Nam) vinh dự được nhận giải thưởng Cô-va-lép-xcai-a dành cho những nhà khoa học nữ có thành tích xuất sắc trong nghiên cứu khoa học tại Việt Nam năm 2011. Trong ảnh: PGS, TS Vũ Thị Thu Hà cùng đồng nghiệp làm việc tại phòng nghiên cứu. ( Ảnh: NGUYỄN Á )
Luật Bình đẳng giới được Quốc hội khóa XI, thông qua ngày 29-11-2006 và có hiệu lực thi hành từ ngày 1-7-2007, quy định nguyên tắc bình đẳng giới trong các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình; biện pháp bảo đảm bình đẳng giới và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân trong việc thực hiện bình đẳng giới. Năm năm qua, việc thực hiện Luật đã đạt được một số thành tựu, tuy nhiên vẫn còn một số khó khăn, thách thức ảnh hưởng đến mục tiêu bình đẳng giới.

Sau năm năm thực hiện, các quy định của Luật đã được triển khai tương đối đồng bộ từ trung ương đến địa phương, góp phần nâng cao nhận thức và ý thức bảo đảm bình đẳng giới trong xây dựng chính sách, pháp luật và tổ chức các hoạt động của các cấp lãnh đạo, cán bộ, công chức, viên chức, người lao động và người dân trong cộng đồng. Về cơ bản Luật Bình đẳng giới đã đạt được một số kết quả nổi bật như sau:

Một là, nguyên tắc cơ bản về bình đẳng giới và bình đẳng giới trong các lĩnh vực đã được quan tâm nghiên cứu trong quá trình sửa đổi, bổ sung văn bản quy phạm pháp luật theo hướng lồng ghép, để tạo cơ hội bình đẳng cho nam, nữ là đối tượng điều chỉnh hoặc thụ hưởng của chính sách và văn bản pháp luật đó.

Nhà nước đã có các quy định pháp luật tháo gỡ một số bất cập, khó khăn ảnh hưởng đến mục tiêu bình đẳng giới và sự tiến bộ, phát triển của phụ nữ , gồm: công nhận thời gian nghỉ sinh con của phụ nữ được tính là thời gian để xét tặng danh hiệu “Lao động tiên tiến”, “Chiến sĩ tiên tiến”; sửa đổi tuổi về hưu theo hướng giữ nguyên nữ, 55 tuổi, nam, 60 tuổi đối với số đông người lao động; giảm tuổi về hưu đối với người bị suy giảm khả năng lao động; làm công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm; làm việc ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo thuộc danh mục do Chính phủ quy định và tăng tuổi cho nhóm có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao, người làm công tác quản lý và một số trường hợp đặc biệt khác; ban hành Bộ chỉ tiêu thống kê phát triển giới của quốc gia và một số lĩnh vực; sửa đổi quy định về điều kiện lao động có hại và các công việc không được sử dụng lao động nữ, lao động nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi; hướng dẫn bảo đảm bình đẳng giới trong công tác tổ chức cán bộ và hoạt động trợ giúp pháp lý; ban hành ba đề án và một tiểu đề án dành riêng cho phụ nữ về dạy nghề, giáo dục đạo đức phẩm chất, giáo dục bà mẹ nuôi con dưới 16 tuổi và phổ biến pháp luật cho phụ nữ nông dân, phụ nữ dân tộc thiểu số; ban hành Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới đến năm 2020, Chương trình mục tiêu bình đẳng giới đến năm 2015; Chiến lược phát triển gia đình đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030…

Hai là, nhận thức về giới, bình đẳng giới và pháp luật về bình đẳng giới có bước tiến bộ tương đối rõ, thể hiện trong việc các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp tổ chức tập huấn, bồi dưỡng kiến thức và kỹ năng lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng văn bản và kế hoạch hoạt động; tăng cường các công trình nghiên cứu, phân tích giới trong các lĩnh vực, để có cơ sở thực tế cho việc xây dựng và thực hiện các hoạt động; chú trọng bảo đảm sự tham gia, đóng góp và hưởng lợi của phụ nữ và nam giới trong các vị trí chức danh quản lý, lãnh đạo và các công việc cụ thể.

Trong lĩnh vực chính trị, sự tham gia của phụ nữ trong cấp ủy và HĐND địa phương có thay đổi, tăng so với nhiệm kỳ trước, 24/63 tỉnh, thành phố có nữ lãnh đạo chủ chốt trong UBND. Cấp trung ương, tuy cán bộ nữ không tăng nhưng đã có một cán bộ nữ là Ủy viên Bộ Chính trị; hai là Bí thư Trung ương Đảng; hai là Phó Chủ tịch Quốc hội. 9/22 bộ có cán bộ nữ là thứ trưởng (Bộ Xây dựng, Bộ Công thương, Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao, Bộ Nội vụ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Y tế, Bộ Tài chính). 1/4 cơ quan ngang bộ có cán bộ nữ lãnh đạo chủ chốt (Thanh tra Chính phủ); 2/8 cơ quan thuộc Chính phủ có cán bộ nữ lãnh đạo chủ chốt (Bảo hiểm xã hội Việt Nam và Học viện Chính trị – Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh).

Trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo, năm 2011, tỷ lệ trẻ em gái vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số học tiểu học và trung học cơ sở đạt khoảng 80%. Nữ sinh viên chiếm hơn 50% trong các trường đại học và cao đẳng; nữ thủ khoa chiếm 61,6% các kỳ tuyển sinh và tốt nghiệp đại học. Đội ngũ nữ trí thức tiếp tục tăng cả về số lượng, chất lượng và được trẻ hóa, chiếm gần 30,53% số người có trình độ thạc sĩ và 17,1% số người có trình độ tiến sĩ. 12% số nhà khoa học nữ là chủ nhiệm đề tài và tham gia Hội đồng tư vấn xét duyệt, đánh giá nghiệm thu đề tài nghiên cứu khoa học cấp nhà nước.

Trong lĩnh vực lao động và kinh tế, năm 2011, trong nước đã tạo việc làm cho một triệu 450 nghìn người (48% nữ, 52% nam) và 88.298 người (30% nữ, 70% nam) đi xuất khẩu lao động; 420 nghìn người được đào tạo nghề ở trình độ cao đẳng và trung cấp (37% nữ, 63% nam); một triệu 440 nghìn người được đào tạo nghề ở trình độ sơ cấp và thường xuyên dưới ba tháng (43% nữ, 57% nam). 798.240 lao động nông thôn được học nghề nông nghiệp (46%) và nghề phi nông nghiệp (54%) theo Đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020” với tỷ lệ nam, nữ tương đương nhau. 20% nữ quản lý và điều hành các doanh nghiệp.

Ba là, bộ máy quản lý Nhà nước về bình đẳng giới được củng cố. Năm 2011, cả nước có 126 cán bộ làm công tác bình đẳng giới ở các tỉnh, thành phố. 9/63 tỉnh, thành phố thành lập Phòng bình đẳng giới tại Sở Lao động – Thương binh và Xã hội. Bộ Nội vụ và Ủy ban Dân tộc bố trí cán bộ chuyên trách làm công tác bình đẳng giới, các cơ quan khác giao nhiệm vụ tham mưu công tác bình đẳng giới cho Ban Vì sự tiến bộ của phụ nữ.

Năm năm qua, mặc dù Nhà nước, gia đình và cá nhân công dân đã có nhiều nỗ lực trong việc thực hiện Luật Bình đẳng giới, nhưng vẫn còn không ít khó khăn, thách thức ảnh hưởng đến mục tiêu bình đẳng giới, bao gồm: định kiến giới vẫn còn tồn tại; hiểu biết và nhận thức đúng về bình đẳng giới chưa đầy đủ, toàn diện; thiếu kỹ năng nên việc thể hiện nguyên tắc bình đẳng giới trong các văn bản quy phạm pháp luật và các hoạt động thực tế còn lúng túng, chưa đạt hiệu quả cao; việc lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong văn bản quy phạm pháp luật chưa xuất phát từ đặc thù giới tính và những vấn đề bất lợi về giới có thể xảy ra trên thực tế, khi thi hành những quy định pháp luật đó. Còn không ít văn bản quy phạm pháp luật và các kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội của quốc gia, địa phương chưa được lồng ghép giới…; việc thực hiện trách nhiệm bảo đảm sự tham gia của đại diện cơ quan quản lý Nhà nước về bình đẳng giới và Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam trong các Ban soạn thảo, Tổ biên tập xây dựng, sửa đổi, bổ sung văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan chủ trì soạn thảo chưa đồng đều, đôi khi mang tính hình thức, chưa phát huy vai trò của đại diện các cơ quan này trong việc xác định vấn đề giới, định hướng bảo đảm nguyên tắc bình đẳng giới; nhận thức về giới, bình đẳng giới và pháp luật về bình đẳng giới mặc dù có thay đổi nhưng còn chậm, chưa toàn diện ở tất cả các đối tượng trong xã hội, chưa được quan tâm theo hướng là vấn đề xuyên suốt trong các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình. Việc thay đổi thái độ và hành vi chuẩn về bình đẳng giới chưa đồng đều, có nơi còn mang tính thời điểm.

Trước tình hình trên, để tiếp tục phát huy những kết quả đã đạt được và khắc phục những hạn chế trong việc thực hiện Luật Bình đẳng giới, thời gian tới, thiết nghĩ các cơ quan, tổ chức cần:

Tăng cường công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức cho lãnh đạo, cán bộ, công chức các cơ quan Nhà nước theo hướng hỗ trợ thông tin khoa học và thực tế để hiểu rõ, hiểu đúng, hiểu sâu sắc, toàn diện về bình đẳng giới; kỹ năng tạo cơ hội bình đẳng giới rõ ràng có tính đến đặc thù giới tính trong chính sách, pháp luật (lồng ghép vấn đề bình đẳng giới) bảo đảm không làm phát sinh bất bình đẳng giới mới khi thực thi các quy định về cơ hội bình đẳng giới.

Tăng cường sự hợp tác thiện chí, chất lượng và hiệu quả giữa các cơ quan, tổ chức trong việc xây dựng, sửa đổi, bổ sung văn bản quy phạm pháp luật bảo đảm bình đẳng giới; bảo đảm và nâng cao chất lượng các hoạt động phản biện, thẩm định, thẩm tra việc lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong dự thảo văn bản quy phạm pháp luật; rà soát, kiến nghị sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật chưa bảo đảm nguyên tắc bình đẳng giới.

Nghiên cứu ban hành và thực hiện các chính sách hỗ trợ nâng chỉ số giới trong các ngành, lĩnh vực và địa phương theo quy định của pháp luật về bình đẳng giới; tổ chức thực hiện hiệu quả các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong chính trị, kinh tế, lao động, giáo dục – đào tạo… trong đó, quan trọng nhất là công tác tăng cường giám sát việc thực hiện pháp luật về bình đẳng giới.

Theo Nhandan