Thứ hai,  20/09/2021

Chủ tịch Hồ Chí Minh với Quảng Tây trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp

LSO- Dưới sự lãnh đạo tài tình của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam, nhân dân đã tiến hành cuộc tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 thành công. Ngày 2 tháng 9 năm 1945 tại Quảng trường Ba Đình - Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh nước Việt Nam dân chủ Cộng hoà. Cuối năm 1946 thực dân Pháp chưa chịu từ bỏ dã tâm xâm lược, nhân dân Việt Nam với tinh thần “Cảm tử cho Tổ quốc quyết sinh” lại bước vào cuộc trường chinh máu lửa, kháng chiến 9 năm ròng cho đến khi Hiệp định Giơnevơ về lập lại hoà bình ở Đông Dương được ký kết (tháng 7/1954), miền Bắc Việt Nam hoàn toàn được giải phóng.Trong lúc nhân dân Việt Nam kháng chiến trường kỳ, gian khổ cũng là lúc nhân dân và quân giải phóng Trung Quốc phải tiến hành cuộc chiến tranh giải phóng anh dũng chống lại tập đoàn Tưởng Giới Thạch được đế quốc Mỹ giúp sức. Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Đảng Cộng sản Việt Nam luôn đứng bên cạnh Đảng cộng...

LSO- Dưới sự lãnh đạo tài tình của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam, nhân dân đã tiến hành cuộc tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 thành công. Ngày 2 tháng 9 năm 1945 tại Quảng trường Ba Đình – Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh nước Việt Nam dân chủ Cộng hoà. Cuối năm 1946 thực dân Pháp chưa chịu từ bỏ dã tâm xâm lược, nhân dân Việt Nam với tinh thần “Cảm tử cho Tổ quốc quyết sinh” lại bước vào cuộc trường chinh máu lửa, kháng chiến 9 năm ròng cho đến khi Hiệp định Giơnevơ về lập lại hoà bình ở Đông Dương được ký kết (tháng 7/1954), miền Bắc Việt Nam hoàn toàn được giải phóng.

Trong lúc nhân dân Việt Nam kháng chiến trường kỳ, gian khổ cũng là lúc nhân dân và quân giải phóng Trung Quốc phải tiến hành cuộc chiến tranh giải phóng anh dũng chống lại tập đoàn Tưởng Giới Thạch được đế quốc Mỹ giúp sức. Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Đảng Cộng sản Việt Nam luôn đứng bên cạnh Đảng cộng sản và nhân dân Trung Quốc, giúp đỡ lẫn nhau, đoàn kết chiến đấu và đã viết nên những bài ca đẹp về tình hữu nghị Việt – Trung. Đầu năm 1946, vào thời điểm quân đội Quốc dân đảng vào Việt Nam giải giáp vũ khí của quân đội Nhật, khi rút về nước thì xảy ra sự kiện hơn 700 người của đội du kích kháng Nhật mang tên “Lão Nhất Đoàn” do Đảng cộng sản Trung Quốc lãnh đạo ở Nam Lộ – Quảng Đông (bao gồm một phần đất Quảng Tây ngày nay), bị một sư đoàn thuộc phái phản động Quốc dân Đảng bao vây và truy kích. Sau khi được sự đồng ý của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, đội du kích đã rút khỏi vùng Động Trung, huyện Phòng Thành, Quảng Tây tiến về khu giải phóng của Việt Nam để nghỉ ngơi và chỉnh đốn lực lượng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ thị cho Đảng bộ cơ sở ở địa phương phải sắp xếp, ổn định đời sống cho các đồng chí du kích “Lão Nhất Đoàn”. Khi quân Quốc dân đảng vào Việt Nam, biết được tin ấy bèn ép Hồ Chí Minh phải giao đội du kích “Lão Nhất Đoàn” cho chúng. Chủ tịch Hồ Chí Minh với bản lĩnh chính trị sáng suốt đã chống lại sức ép ngang ngược của bọn Quốc dân đảng, tiếp tục cho phép “Lão Nhất Đoàn” ở lại Việt Nam để chỉnh đốn đội ngũ. Thời kỳ này cũng là những năm tháng gian khổ của cuộc kháng chiến chống Pháp, ngay đến lực lượng vũ trang của mình là Vệ Quốc đoàn cũng chưa được cung cấp đủ về hậu cần, nhưng với tinh thần đoàn kết gắn bó keo sơn, nhường cơm sẻ áo, được sự quan tâm của chủ tịch Hồ Chí Minh, du kích quân “Lão Nhất Đoàn” vẫn được chăm sóc chu đáo tại Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam cho phép “Lão Nhất Đoàn” tổ chức đội tự vệ Hoa kiều chống Pháp ở những nơi có Hoa kiều sinh sống để tham gia cuộc kháng chiến chống Pháp. Đến tháng 9 năm 1947, hưởng ứng lời kêu gọi của Đảng cộng sản Trung Quốc, “Lão Nhất Đoàn” trở về nước tham gia cuộc chiến tranh giải phóng và trở thành đội quân vũ trang nhân dân quan trọng của quân khu Vân Nam – Quảng Tây- Quý Châu. Đồng thời đáp lại đề nghị của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam, một bộ phận “Lão Nhất Đoàn” tiếp tục ở lại Việt Nam tham gia kháng chiến và triển khai công tác Hoa vận, góp sức vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp.



Nghĩa trang các liệt sĩ Trung -Việt ở Thủy Khẩu, Long Châu,
Quảng Tây- Trung Quốc

Tháng 6 năm 1949, để phối hợp với đà tiến quân thắng lợi của quân giải phóng nhân dân Trung Quốc vượt sông Trường Giang để tiến về phương Nam giải phóng đất nước, “Chi đội Tả Giang” thuộc đội du kích bí mật của Quảng Tây dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Trung Quốc đã quyết định mở đợt đấu tranh vũ trang quy mô lớn ở vùng Long Châu, Bằng Tường, Ninh Minh, chớp thời cơ tiêu diệt bọn phản động Quốc dân đảng, khống chế và phân tán binh lực của địch. Chỉ huy đội du kích Tả Giang đã liên hệ với Bộ chỉ huy Vệ quốc đoàn Việt Nam đề nghị phối hợp tác chiến. Sau khi tìm hiểu tình hình, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã chỉ thị cho Bộ chỉ huy Vệ quốc Đoàn điều động một trung đoàn, phối hợp tác chiến với Chi đội Tả Giang. Cuộc chiến đấu mở đầu ở huyện Long Châu. Lực lượng vũ trang cách mạng Việt – Trung tiến công địch ở Thuỷ Khẩu, La Hồi, Hạ Đông. Chốt giữ Thuỷ Khẩu là một đại đội thuộc Trung đoàn Bảo an số 6 của địch và một trung đội thuộc tiểu đoàn cảnh sát Nguỵ Tấn, chúng được trang bị hoả lực mạnh. Lực lượng Vệ quốc đoàn đảm nhận nhiệm vụ chủ công. Qua một trận chiến đấu quyết liệt, địch phải tháo chạy, bộ đội Việt-Trung tiếp tục truy kích địch, đến địa điểm Độc Sơn thuộc La Hồi thì gặp địch từ Long Châu kéo đến Thuỷ Khẩu để ứng cứu. Trận đánh diễn ra rất ác liệt giữa liên quân Việt-Trung và Quốc dân đảng. Trong đợt chiến đấu này đã có 22 chiến sĩ Vệ quốc đoàn anh dũng hi sinh. Để tưởng nhớ các đồng chí Việt Nam đã hi sinh trong cuộc chiến tranh giải phóng của Trung Quốc, nhân dân Long Châu đã xây đài liệt sĩ cách mạng Việt Nam bên đường quốc lộ Trung – Việt ở Thuỷ Khẩu. Tại vùng biên giới thuộc huyện Bằng Tường, lực lượng vũ trang Việt Nam cũng đã phối hợp chiến đấu với đội du kích Trung Quốc, 8 chiến sĩ Việt Nam đã anh dũng hi sinh.

Những chiến sĩ quân đội nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dùng máu của mình viết nên bài ca hữu nghị của nhân dân hai nước Việt – Trung.




Sầm Cảnh Dũng