Chủ nhật,  16/05/2021

Nét mới của Chương trình Xúc tiến thương mại quốc gia từ năm 2011

Tại Quyết định số 72/2010/QĐ-TTg ngày 15-11-2010, Chính phủ ban hành "Quy chế xây dựng, quản lý và thực hiện Chương trình Xúc tiến thương mại quốc gia", áp dụng từ năm 2011. Vậy Quy chế 72 có gì mới ?Chương trình Xúc tiến thương mại quốc gia (XTTM QG) giai đoạn 2006 - 2010, vừa khép lại với nhiều ấn tượng. Cách đây năm năm, ngày 30-11-2005, để tạo xung lực cho hoạt động thương mại, nhất là sát thời điểm gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), không thể áp dụng những biện pháp hỗ trợ trực tiếp cho doanh nghiệp (DN), Chính phủ đã ban hành Chương trình XTTM QG, thông qua XTTM giúp cộng đồng DN mở rộng thị trường xuất khẩu (XK), góp phần nâng cao năng lực kinh doanh, tiếp cận thị trường; gắn kết các hoạt động XTTM với xúc tiến đầu tư (XTĐT), xúc tiến du lịch (XTDL).Chủ trương đúng đắn và kịp thời đó đã được các DN, các Hiệp hội ngành hàng, các địa phương cùng các tổ chức kinh tế - thương mại hồ hởi đón nhận, dấy lên phong trào XTTM sôi động khắp các địa...

Tại Quyết định số 72/2010/QĐ-TTg ngày 15-11-2010, Chính phủ ban hành “Quy chế xây dựng, quản lý và thực hiện Chương trình Xúc tiến thương mại quốc gia”, áp dụng từ năm 2011. Vậy Quy chế 72 có gì mới ?

Chương trình Xúc tiến thương mại quốc gia (XTTM QG) giai đoạn 2006 – 2010, vừa khép lại với nhiều ấn tượng. Cách đây năm năm, ngày 30-11-2005, để tạo xung lực cho hoạt động thương mại, nhất là sát thời điểm gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), không thể áp dụng những biện pháp hỗ trợ trực tiếp cho doanh nghiệp (DN), Chính phủ đã ban hành Chương trình XTTM QG, thông qua XTTM giúp cộng đồng DN mở rộng thị trường xuất khẩu (XK), góp phần nâng cao năng lực kinh doanh, tiếp cận thị trường; gắn kết các hoạt động XTTM với xúc tiến đầu tư (XTĐT), xúc tiến du lịch (XTDL).

Chủ trương đúng đắn và kịp thời đó đã được các DN, các Hiệp hội ngành hàng, các địa phương cùng các tổ chức kinh tế – thương mại hồ hởi đón nhận, dấy lên phong trào XTTM sôi động khắp các địa phương, ngành hàng, đơn vị, phong phú về nội dung, đa dạng về hình thức, mang lại hiệu quả đáng ghi nhận.

Trong giai đoạn 2006 – 2010, trong các Chương trình XTTM QG hằng năm, đã có tổng cộng 669 hạng mục được phê duyệt với tổng số kinh phí là 620,2 tỷ đồng. Mở màn năm 2006, chương trình đã hỗ trợ cho 4.515 lượt DN tham gia các hoạt động XTTM, qua đó 1.174 hợp đồng, biên bản thỏa thuận được ký kết, trị giá 86 triệu USD. Năm 2007, số hợp đồng, biên bản đã tăng gấp hai lần về số lượng và gấp hơn mười lần về trị giá. Năm 2008, số lượng hợp đồng, biên bản tiếp tục tăng và trị giá gấp gần ba lần năm 2007. Năm 2009, trong bối cảnh suy giảm kinh tế và khủng hoảng tài chính toàn cầu, các hoạt động XTTM càng được tăng cường. Trị giá hợp đồng và biên bản ghi nhớ vượt năm 2008 và gấp 17 lần năm 2006. Nhờ vậy, chương trình đã góp phần quan trọng duy trì và mở rộng thị trường XK.

Trong tiến trình nói trên, nhiều cơ sở vật chất, phương tiện kỹ thuật cho XTTM được tăng cường. Một số địa phương đã xây dựng công trình tầm cỡ để tổ chức các sự kiện XTTM. Trình độ của đội ngũ cán bộ, công chức đã nâng lên, được sử dụng phương tiện kỹ thuật tiên tiến, tiếp thu kiến thức, chia sẻ kinh nghiệm XTTM quốc tế. Các tổ chức XTTM quốc tế, ghi nhận những nỗ lực của ta, đã tăng cường hỗ trợ nhiều mặt, nhất là về tài lực, đào tạo kỹ năng cho đội ngũ đầu đàn, nhân rộng ra các ngành, các địa phương, hỗ trợ phát triển mặt hàng có tiềm năng. Trong quá trình triển khai chương trình, đã kịp thời xem xét, bổ sung những biện pháp mới từ việc xây dựng đến quá trình vận hành…

Tuy vậy, do lần đầu có chương trình quy mô quốc gia; kinh phí còn hạn hẹp; phương thức, thủ tục phân bổ, sử dụng, giải ngân còn lúng túng, phạm vi hỗ trợ, mức hỗ trợ còn dè dặt, cho nên hiệu quả chưa như mong muốn. Do phần lớn các DN thuộc diện vừa và nhỏ, năng lực tài chính, tác nghiệp không cao, lại thiếu liên kết, việc triển khai chương trình không tránh khỏi sự dàn trải, chưa tạo ra được những điểm nhấn.

Phát huy thành quả đã đạt được, khắc phục những hạn chế, quán triệt yêu cầu mới là tư tưởng chỉ đạo khi xây dựng Quy chế mới, thay thế cho Quy chế giai đoạn 2006 – 2010 hết hiệu lực. Điểm mấu chốt là chương trình mới &#39phủ sóng&#39 XTTM trên cả ba lĩnh vực: XTTM định hướng XK, XTTM thị trường trong nước và XTTM miền núi, biên giới và hải đảo. Trong giai đoạn trước, bên cạnh hoạt động XTTM định hướng XK, đã có những hoạt động XTTM tại thị trường nội địa và tại khu vực miền núi, biên giới. Nhưng chủ yếu là tổ chức Hội chợ triển lãm, và thường diễn ra ở tỉnh lỵ, thị xã. Nội dung và mức hỗ trợ về XTTM cho hai địa bàn nói trên chưa đầy đủ, hợp lý, tương xứng với tiềm năng. Cái khó bó cái khôn, các địa phương, đơn vị được chủ trì các hạng mục chưa mạnh dạn đề xuất nội dung, sáng tạo trong thực hiện.

Theo tinh thần mới, bên cạnh việc XTTM định hướng XK với nội dung càng phong phú, linh hoạt, việc XTTM thị trường trong nước và XTTM tại biên giới, miền núi, hải đảo được quy định rõ ràng.

Theo đó, về XTTM thị trường nội địa, sẽ bao gồm: Tổ chức các Hội chợ triển lãm; tổ chức các hoạt động bán hàng; khảo sát thị trường; tuyên truyền về hàng hóa, dịch vụ Việt Nam; hỗ trợ quy hoạch và xây dựng cơ sở hạ tầng; đào tạo nhân lực… XTTM biên giới, miền núi, hải đảo sẽ bao gồm: Phát triển hệ thống phân phối hàng Việt; xây dựng và cung cấp thông tin thị trường biên giới; tổ chức các hoạt động giao dịch thương mại và đưa hàng vào khu kinh tế cửa khẩu; tổ chức và phát triển phân phối hàng Việt sang các khu vực biên giới với các nước có chung đường biên; nâng cao năng lực cho thương nhân hoạt động tại khu vực này; tuyên truyền quảng bá việc tiêu thụ sản vật của đồng bào…

Điểm mới này sẽ đạt nhiều đích, vừa góp phần khơi dậy tiềm năng của thị trường trong nước, thị trường biên giới lâu nay chưa được quan tâm đúng mức, vừa tạo ra sự gắn kết giữa thị trường trong nước và ngoài nước; vừa đóng góp vào việc phát triển có trọng điểm những địa bàn xung yếu, vừa kích thích những vùng chưa phát triển, vừa tươi mới với sự phát triển hài hòa giữa các vùng miền, vừa nổi lên những điểm sáng. Thực hiện chương trình còn thiết thực góp vào sự thành công của cuộc vận động &#39Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam&#39, phối hợp XTĐT, XTDL trong phạm vi cả nước.

Điểm mấu chốt khác được đổi mới là vấn đề kinh phí. Từ năm 2008, kinh phí XTTM được ngân sách Nhà nước cấp thay vì sử dụng Quỹ Hỗ trợ xuất khẩu lại nằm chung với kinh phí XTĐT, XTDL cho nên thường thông báo muộn, dẫn đến phê duyệt chậm hoặc phải điều chỉnh, khiến nhiều chương trình bị dồn vào cuối năm, lỡ nhiều cơ hội. Theo quy chế mới, kinh phí Nhà nước hỗ trợ cho chương trình được giao cho Bộ Công thương từ đầu năm. Việc phê duyệt, cấp kinh phí cho các hạng mục sớm, tạo điều kiện để triển khai XTTM ngay từ đầu năm, chớp được cơ hội.

Để thực hiện cải cách hành chính, trình tự thủ tục xây dựng, tiếp nhận, đánh giá, thẩm định, phê duyệt, điều chỉnh và chấm dứt thực hiện đề án XTTM QG cũng được đổi mới, nhất là đối với các hạng mục lớn phải thực hiện trong thời gian dài, qua năm tài chính thứ hai; những hạng mục đang được thực hiện có hiệu quả cần được bổ sung kinh phí kịp thời; hiệu chỉnh những hạng mục không có khả năng thực hiện…, nhằm mở ra nhiều loại hình, xây dựng chiến lược phát triển các vùng miền, thị trường, ngành hàng; giảm hẳn giấy tờ, thời gian trong thủ tục hành chính.

Theo Nhandan