Thứ hai,  26/09/2022

Ðôi bờ sông Chảy

Bảo Yên là cửa ngõ phía nam của tỉnh Lào Cai, nổi danh với di tích lịch sử trận Phố Ràng và dòng sông Chảy hùng vĩ, thơ mộng. Dọc đôi bờ sông Chảy hôm nay, chính quyền và người dân nơi đây đang làm nên một diện mạo nông thôn mới.Sản xuất giấy xuất khẩu ở Công ty lâm nghiệp Bảo Yên (Lào Cai). Bữa cơm ở nhà pắt pie (lão ngư) Lục Bỉnh Sợi được mệnh danh là "rái cá" sông Chảy thật ấn tượng. Các món cá, tôm đánh lên từ dòng sông ầm ào, cuồn cuộn chảy ngang nhà. Nào tôm đá rang lá chanh, cá chép tía nướng lá mắc-khén, cá chày mắt đỏ om củ chuối, nhưng ngon nhất là món cá chiên nấu lá vón vén, một loại lá chua chỉ có ở vùng rừng Tây Bắc và chỉ một số người dân tộc thiểu số biết hái lá để làm món thẩm lam (canh cá chua). Thịt cá chiên nục nạc, vàng, thơm, ngọt lừ quyện vị chua thanh của lá vón vén, không hổ danh là đặc sản của sông Chảy, vị ngon không lẫn với bất kỳ một loại cá...

Bảo Yên là cửa ngõ phía nam của tỉnh Lào Cai, nổi danh với di tích lịch sử trận Phố Ràng và dòng sông Chảy hùng vĩ, thơ mộng. Dọc đôi bờ sông Chảy hôm nay, chính quyền và người dân nơi đây đang làm nên một diện mạo nông thôn mới.




Sản xuất giấy xuất khẩu ở Công ty lâm nghiệp Bảo Yên (Lào Cai).

Bữa cơm ở nhà pắt pie (lão ngư) Lục Bỉnh Sợi được mệnh danh là “rái cá” sông Chảy thật ấn tượng. Các món cá, tôm đánh lên từ dòng sông ầm ào, cuồn cuộn chảy ngang nhà. Nào tôm đá rang lá chanh, cá chép tía nướng lá mắc-khén, cá chày mắt đỏ om củ chuối, nhưng ngon nhất là món cá chiên nấu lá vón vén, một loại lá chua chỉ có ở vùng rừng Tây Bắc và chỉ một số người dân tộc thiểu số biết hái lá để làm món thẩm lam (canh cá chua). Thịt cá chiên nục nạc, vàng, thơm, ngọt lừ quyện vị chua thanh của lá vón vén, không hổ danh là đặc sản của sông Chảy, vị ngon không lẫn với bất kỳ một loại cá nào. Theo lão ngư Sợi, cá chiên chỉ sống ở những con sông nước ngọt lắm thác nhiều ghềnh, như sông Chảy hay sông Đà, sông Gâm. Loài cá này được mệnh danh là “thủy quái” dưới lòng sông Chảy, chuyên săn những loài cá khác làm thức ăn, trú ngụ ở những hang đá ngầm hóc hiểm sát lòng sông sâu, nơi có nhiều thác lớn chảy xiết. Cá chiên có trọng lượng lớn nhất trong số những loài cá hiện có ở sông suối vùng núi Tây Bắc, nhiều con nặng 20-30 kg, da mốc meo, sằn sẹo do ở trong hang đá tầng sâu. Ban ngày, cá ẩn mình trong hang đá ngầm, tối đến bơi ra tìm mồi, nên muốn bắt cá chiên chỉ có cách cắm câu dây qua đêm, chứ không thể chài lưới. Sông Chảy bắt nguồn từ dãy Kiều Liên Ty cao 2.144 m so mặt nước biển của tỉnh Hà Giang, chảy vào Lào Cai từ địa phận xã Tả Gia Khâu, len lỏi qua trập trùng núi cao thăm thẳm của vùng “núi nhọn” Mường Khương, Bắc Hà, có tên gọi sông Xanh, rồi trằm mình xoải nước qua chín xã của huyện Bảo Yên – cửa ngõ Lào Cai tiếp giáp “vương quốc đá đỏ” Lục Yên nổi tiếng của tỉnh Yên Bái, đổ nước vào hồ thủy điện Thác Bà trước khi nhập dòng sông Hồng ở Đoan Hùng (Phú Thọ). Do phù du đổ về từ thượng nguồn nên sông Chảy rất nhiều tôm, cá và được mệnh danh là “mỏ” cá, tôm của cư dân sinh sống ven sông. Phó Chủ tịch UBND xã Tân Dương Lý Văn Mạo kể: Ngày trước, bà con người Tày chỉ cần cầm cái rão (nơm) đan bằng tre chứ chưa có lưới gai, lưới ni-lông như bây giờ, tìm đến những búng ro (vụng nước) dọc sông mùa nước cạn mà xúc, thậm chí các noọng (cô gái trẻ), các mế (bà mẹ) tay không cũng bắt được cá chày, cá chép, cá mè cỡ hai, ba cân một con… ngược dòng từ dưới hồ Thác Bà lên vùng thượng nguồn. Phụ nữ người Tày thường mặc bơ tộ (váy) đi úp rão, gặp ổ cá lớn, dùng luôn váy chàm quây bắt cá. Câu chuyện của anh Mạo pha chút hài hước muốn chứng minh rằng sông Chảy là “vựa” cá của Lào Cai, đã nuôi sống và làm giàu cho cư dân nơi đây từ bao đời. Hiện giờ cá tự nhiên đã vơi cạn, người dân các xã Tân Dương, Xuân Hòa mở hướng nuôi trồng thủy sản, đặc sản sông Chảy. Đồng bào dân tộc Tày ven sông và cả người Dao vốn sống trên sườn núi đã chuyển đổi ruộng trũng làm ao; tận dụng các khe núi, ngăn đập nuôi cá nheo, chiên, lăng, quất. Gia đình ông Cổ Văn Bàn, dân tộc Tày, ở bản Cuông, xã Xuân Hòa với hơn ba ha mặt nước, chuyên nuôi các loại thủy sản có giá trị kinh tế cao như: cá nheo, trắm đen, cá chẽm Ô-xtrây-li-a, ba ba… Trang trại của ông hiện có gần 4.000 con ba ba, hai ao nuôi gần 700 con cá nheo và cá trắm đen; đồng thời đang nuôi thử nghiệm cá chẽm Ô-xtrây-li-a. Để bảo đảm nguồn thức ăn nuôi cá, ông Bàn trồng cỏ, nuôi các loại cá tạp, sắm máy xay chế biến thức ăn, máy thái cỏ… bảo đảm có thể nuôi cá đặc sản, ba ba khép kín, quy mô lớn. Bình quân mỗi năm gia đình ông Bàn thu được hơn 300 triệu đồng. Cách đây vài năm, con cá từ Tân Dương, Xuân Hòa ra chợ thị trấn Phố Ràng có khi ươn thối, bán không ai mua, vì đường sá lầy lội, ách tắc. Năm 2009, quốc lộ 279 được Nhà nước mở rộng, trải nhựa phẳng lỳ, nối liền mấy xã dọc hai bên bờ sông Chảy với thị trấn huyện lỵ, thông sang huyện Bắc Hà, vươn đến tỉnh bạn Hà Giang đã giúp bà con nâng giá trị, hiệu quả kinh tế của sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp. Từ thị trấn huyện lỵ Phố Ràng, xe ô-tô, xe máy từ sáng đến tối, vun vút lao vào tận bản thu mua cá thịt, ba ba, ngô hạt, gỗ rừng trồng… Giao thông thuận lợi, người dân có hàng bán, chỉ cần một cú “phôn”, rồi ung dung đếm tiền tại nhà, bao nhiêu hàng thì đội quân thương lái cũng đưa xe đến chở hàng đi tiêu thụ hết. Chủ tịch UBND xã Xuân Hòa Phạm Quang Trung cho hay, từ khi có đường giao thông thuận lợi, mỗi năm Xuân Hòa xóa nghèo được vài chục hộ, nhiều nhà xây đang mọc lên làm thay đổi bộ mặt nông thôn vùng sâu này.

Vượt qua cây cầu treo uốn hình vòng cung căng ngang thoong Chảy (sông Chảy) vạm vỡ, cuồn cuộn nước đổ vào hồ thủy điện Thác Bà, chúng tôi đến Việt Tiến, xã cuối cùng của huyện Bảo Yên, giáp với huyện Yên Bình của tỉnh Yên Bái. Con sông Chảy đã qua miền núi dốc, khe sâu đến đây bớt hung dữ trở nên hiền hòa, êm, lặng. Xã Việt Tiến có hơn 100 hộ đồng bào công giáo ở thôn Hàm Rồng và Hòn Nón, họ đã nhường đất để Nhà nước xây dựng Nhà máy thủy điện Thác Bà, vào những năm 70 của thế kỷ trước. Hơn 40 năm đã qua, dòng nước sông Chảy vẫn giữ đều nhịp quay của tua-bin máy phát cung cấp dòng điện quý cho đất nước. Xưa nhường đất xây nhà máy thủy điện, còn nay người dân Việt Tiến đang chung sức trồng rừng, làm trang trại nuôi nhím, lợn rừng… để thoát nghèo, để giữ mầu xanh, giữ nguồn nước sông Chảy không bao giờ vơi cạn. Cho dù đến tận cuối năm ngoái, những cư dân nơi đây mới lần đầu được sử dụng điện lưới quốc gia do địa hình quá hiểm trở, cách biệt, nhưng như thế là mừng rồi, vì cuối cùng thì Chương trình 135 của Nhà nước cũng đã đem được dòng điện sáng và con đường rộng đến giúp họ có điều kiện phát triển sản xuất, nâng cao chất lượng cuộc sống. Chủ tịch UBND xã Việt Tiến Trần Bá Quả, đưa chúng tôi đến thăm trang trại vườn rừng rộng hàng chục ha, xanh mướt keo, mỡ, bồ đề đã khép tán của vợ chồng anh Nguyễn Mạnh Thắng ở thôn Hòn Nón. Khai thác thế mạnh đất đai, vườn rừng, gia đình anh Thắng nuôi tú mẩn (con nhím), tú mu loong (con lợn rừng) theo mô hình khép kín từ sản xuất giống đến thành phẩm. Những con lợn rừng mõm nhọn, chân cao, lông dày, cứng sau bốn tháng thả rông, thoải mái cày ủi ăn sắn củ, ăn măng trong khu vườn rừng được rào chắn kỹ càng, đạt trọng lượng khoảng 25 – 30 kg/con là xuất bán cho thương lái vào tận nhà mua với giá 170 nghìn đồng/kg. Nhím nuôi một năm đạt bảy kg/con, bán với giá 300 nghìn đồng/kg; riêng nhím bố mẹ để sinh sản là 15 triệu đồng/cặp. Chỉ vào chiếc xe máy tay ga đắt tiền dựng ở góc nhà, anh Thắng khoe đó là “sản phẩm” của ba cặp nhím giống anh vừa bán để mua xe tặng con gái vừa tốt nghiệp ra trường đi làm cơ quan nhà nước ngoài phố huyện. Câu chuyện làm ăn càng rôm rả, khi đoàn chúng tôi đến thăm “vua măng hốc” Nguyễn Hữu Hính ở thôn Già Hạ 1. Mỗi năm “vua măng” thu đều đều khoảng 100 triệu đồng từ hơn 400 bụi hốc thâm canh lấy măng ở chung quanh nhà. Hốc là một loại cây sẵn có ở vùng này, cùng họ tre nứa, cho măng rất ngon. Công việc của vợ chồng anh Hính chỉ việc đào rãnh quanh gốc bón phân NPK rồi lấp đất lại và dọn cỏ, vun đất quanh bụi hốc là có nguồn thu khoảng sáu đến tám tấn măng khô/năm, bán với giá 130 nghìn đồng/kg, dư sức nuôi hai đứa con học cao đẳng dưới Thủ đô Hà Nội, bảo đảm cuộc sống hằng ngày và có sổ tiết kiệm gửi ngân hàng. Bên bàn trà thơm, nở nụ cười ấm áp, anh Hính bảo: Có làm thì có ăn thôi, đất không phụ công người đâu. Mình đang chiết giống để cung cấp cho bà con, chỉ năm nghìn một cây giống thôi, giúp mọi người cùng làm cho rừng xanh thêm, lại có nguồn thu nhập để xóa nghèo bền vững. Hãy tin ở những con người nặng lòng với đất, với rừng, với con sông quê hương như anh Hính, anh Thắng và người dân Việt Tiến hôm nay.
Thị trấn Phố Ràng, trung tâm huyện lỵ Bảo Yên nằm dọc bờ tả sông Chảy. Đứng ở di tích đồn Phố Ràng, phóng tầm mắt ra xa, sông Chảy lững lờ trôi thật thơ mộng bên những quả đồi xanh ngắt mầu cây lấy gỗ, tre, luồng làm đũa, bột giấy của Công ty lâm nghiệp Bảo Yên. Chính ở nơi đây, hơn 60 năm trước, nhà văn Trần Đăng đã cùng hành quân và công đồn, tận mắt chứng kiến khí thế tiến công như chẻ tre của những người lính Cụ Hồ, để viết nên thiên ký sự “Trận Phố Ràng” hào sảng. Ngày nay, thị trấn Phố Ràng như cô gái trẻ tràn đầy sức sống, thay da đổi thịt từng ngày, với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội của huyện Bảo Yên trong năm, mười năm tới, trong đó Phố Ràng là đầu tàu tăng trưởng, xứng đáng là đô thị cửa ngõ phía nam của tỉnh Lào Cai, có sức quyến rũ, mời gọi bè bạn bốn phương. Phó Chủ tịch UBND huyện Nguyễn Thị Thu và Trưởng phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Trần Đình Khải rất tâm đắc với bốn thế mạnh của chín xã dọc đôi bờ tả, hữu sông Chảy là rừng, cá, trâu và du lịch hang động. Huyện đang tập trung thực hiện đề án nâng cao hiệu quả kinh tế lâm nghiệp, khôi phục và xây dựng thương hiệu trâu Bảo Yên, phát triển du lịch sinh thái và cộng đồng…, với mục tiêu đạt từ 70 đến 80 triệu đồng/đơn vị canh tác. Với vai trò chủ lực, Công ty lâm nghiệp Bảo Yên đã ký hợp đồng với hàng chục nghìn hộ dân, trồng hàng nghìn ha luồng giống Thanh Hóa ở các xã dọc sông Chảy, đang liên doanh với Công ty cổ phần Tam Điệp (Hà Nội) xây dựng nhà máy sản xuất ván sợi ép (MDF) với công nghệ hiện đại, không riêng của Lào Cai mà cả vùng núi Tây Bắc này. Cuộc sống mới đang hiển hiện bên đôi bờ sông Chảy thân thương.


Theo Nhandan