Thứ tư,  08/02/2023

Cần tăng tỷ trọng chế biến sâu để nâng cao giá trị gia tăng của cà phê

Việt Nam là một trong những quốc gia xuất khẩu cà phê vối hàng đầu của thế giới, nhưng tiêu thụ trong nước còn nhiều bất cập, chỉ đạt chưa đến 10% trong tổng sản lượng cà phê nhân. Ông Lương Văn Tự, Chủ tịch Hiệp hội Cà phê Ca cao Việt Nam kiến nghị sớm có giải pháp, chiến lược kích cầu tiêu dùng cà phê nội địa nhằm góp phần vừa chủ động tiêu thụ sản lượng cà phê vừa nâng cao giá trị gia tăng của cà phê Việt Nam.

Việt Nam là một trong những quốc gia xuất khẩu cà phê vối hàng đầu của thế giới, nhưng tiêu thụ trong nước còn nhiều bất cập, chỉ đạt chưa đến 10% trong tổng sản lượng cà phê nhân. Ông Lương Văn Tự, Chủ tịch Hiệp hội Cà phê Ca cao Việt Nam kiến nghị sớm có giải pháp, chiến lược kích cầu tiêu dùng cà phê nội địa nhằm góp phần vừa chủ động tiêu thụ sản lượng cà phê vừa nâng cao giá trị gia tăng của cà phê Việt Nam.

Hàng năm, ở nước ta, sản lượng cà phê nhân cũng như kim ngạch xuất khẩu đều tăng, năm sau lúc nào cũng cao hơn năm trước. Cụ thể như năm 2012, cả nước thu về 4,3 tỷ USD, trong đó, xuất khẩu cà phê nhân thô trên 1,5 triệu tấn thu về 3,74 tỷ USD và từ cà phê chế biến sâu tiêu thụ nội địa, xuất khẩu khoảng 12 tỷ Việt Nam đồng, tương đương trên 600 triệu USD. Đây là doanh thu mới tính sơ bộ khoảng 5% trong tổng sản lượng cà phê nhân mà đã đạt giá trị gia tăng khá cao, gấp 3 lần so với xuất khẩu cà phê nhân nguyên liệu. Trong khi đó, nếu để 5% cà phê nguyên liệu này xuất khẩu chỉ thu về được gần 200 triệu USD. Theo tính toán của các chuyên gia, 600 triệu USD cho thị trường 90 triệu dân của nước ta là còn quá thấp, bình quân, mỗi người Việt Nam chỉ mới sử dụng khoảng 0,7 kg cà phê/năm, bằng 1/10 so với các nước phát triển. Khi có chiến lược kích cầu tiêu thụ nội địa tốt, có kế hoạch hướng đến 50% sản lượng cà phê nhân thô được chế biến thành các sản phẩm cà phê bột, cà phê hoà tan, với chất lượng cao, có giá bản khoảng 5.000 đồng/ ly (rẻ hơn một nửa như hiện nay ở các quản bình dân), ngành cà phê cũng thu về hơn 300 ngàn tỷ Việt Nam đồng (tương đương 15 tỷ USD)…

Ảnh minh hoạ (Nguồn: baosuckhoe.org) 

Cũng theo ông Lương Văn Tự, khi bán 1 kg cà phê nhân như hiện nay, các doanh nghiệp có khả năng thu về 2 USD, tương đương với giá trung bình của 1 ly cà phê ở các nước nhập khẩu, trong khi đó, mỗi kg cà phê nhân (cà phê nguyên liệu) thì pha chế được từ 50 ly cà phê trở lên!. Tuy nhiên, các quốc gia trên thế giới thường bảo hộ sản xuất trong nước, xuất khẩu cà phê chế biến sâu khó hơn rất nhiều so với xuất khẩu cà phê nhân thô. Ngược lại, xuất khẩu cà phê nhân thô tuy dễ dàng hơn nhưng nhược điểm là giá cả rất bấp bênh, giá trị gia tăng thấp. Thực tế cho thấy, khi tỷ lệ xuất khẩu quá cao, nhà sản xuất cà phê đều bị lệ thuộc vào các nhà nhập khẩu cà phê. Thế nên, thúc đẩy tiêu dùng nội địa chính là cách làm căn cơ nhất. Ngoài nâng cao giá trị gia tăng cho cà phê nhờ vào việc chế biến, thúc đẩy tiêu dùng cà phê nội địa còn làm cho tiếng nói của nhà xuất khẩu cà phê nhân thô có trọng lượng hơn khi đàm phán với các nhà nhập khẩu cà phê của Việt Nam.

Tuy nhiên, chế biến sâu để nâng cao giá trị gia tăng cho sản phẩm cà phê của nước ta còn quá nhiều hạn chế. Theo số liệu của Cục chế biến, Thương mại nông lâm thuỷ sản và nghề muối (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) thì hiện nay, việc chế biến sâu cho cà phê chỉ mới gần 100.000 tấn/năm, trong đó chủ yếu là cà phê bột, cà phê hoà tan.Theo quy hoạch phát triển cà phê đến năm 2030, Nhà nước cũng khuyến khích các nhà đầu tư trong, ngoài nước tiếp tục đầu tư xây dựng mới các nhà máy chế biến sâu cà phê, gồm có cà phê bột, cà phê hoà tan, với tổng công suất gần 15 đến 20% trong tổng sản lượng cà phê nhân thô của cả nước. Trước mắt, trong năm tới, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn sẽ ban hành quy hoạch chi tiết về mạng lưới chế biến cà phê gắn với vùng nguyên liệu, trong đó, tập trung các cơ chế, chính sách để phát triển chế biến sâu cà phê. Bộ cũng ban hành thêm các quy chuẩn về chất lượng cà phê hoà tan, cà phê bột, quy chuẩn về đảm bảo an toàn cơ sở chế biến cà phê hoà tan, cà phê bột nhằm ngăn chặn tình trạng sản xuất cà phê bột, cà phê hoà tan kém chất lượng, không đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm.
Ngay tại Đắk Lắk, nơi địa phương có nhiều diện tích, năng suất, sản lượng cà phê nhất nước trong vài năm trở lại đây đã thu hút nhiều doanh nghiệp đầu tư phát triển các cơ sở chế biến sâu cho cà phê và sản phẩm cà phê bột, cà phê hoà tan đã chiếm gần 15% trong tổng sản lượng cà phê nhân của tỉnh. Hiện nay, nhiều doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk đã đầu tư nâng công suất các nhà máy chế biến sâu cà phê như Công ty Cổ phần Đầu tư và Phát triển An Thái đã nâng công suất từ 1.000 tấn lên 2.500 tấn sản phẩm /năm, Công ty cà phê Ngon (100% vốn nước ngoài của Ấn Độ) đã đầu tư 18 triệu USD để nâng công suất từ 6.000 tấn sản phẩm tăng lên 10.000 sản phẩm cà phê hoà tan/năm. Công ty Cổ phần cà phê Trung Nguyên đã đầu tư xây dựng nhà máy chế biến cà phê bột- cà phê hoà tan 60.000 tấn sản phẩm/ năm…Thành phố Buôn Ma Thuột hiện nay đang bùng nổ “nhà nhà” đua nhau mở quán kinh doanh cà phê, góp phần nâng cao giá trị gia tăng cho sản phẩm cà phê.

Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, cả nước hiện nay có tổng diện tích cà phê trên 614.545 ha, trong đó có 65.415 ha cà phê kiến thiết cơ bản, diện tích còn lại là cà phê kinh doanh đưa vào thu hoạch, với sản lượng mỗi niên vụ đạt từ 1,273 triệu tấn cà phê nhân trở lên.

Theo Dangcongsan