Thứ tư,  28/09/2022

Hợp tác xã kiểu mới – Giải pháp đột phá phát triển nông nghiệp Việt Nam

Quy luật phát triển của kinh tế hợp tác là không phủ định, không thay thế kinh tế hộ mà làm cho kinh tế hộ có sức cạnh tranh tốt hơn và thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranh toàn cầu.

I – Kinh tế hợp tác của Việt Nam sau 60 năm phát triển: Thành tựu to lớn và yếu kém kéo dài, cần đột phá về tư duy về mô hình và vai trò cơ chế hợp tác

Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương 8 khóa II (tháng 08/1955) xác định chủ trương xây dựng thí điểm một số hợp tác xã (HTX) nông nghiệp, sau 3 năm đã thành lập được 45 HTX và 100 nghìn tổ đổi công. Kể từ khi những HTX nông nghiệp thí điểm đầu tiên được thành lập, tính đến nay đã tròn 60 năm.

Trong giai đoạn từ năm 1955 đến 1975 và đến trước đổi mới năm 1986, HTX được xác định là 1 trong 2 hình thức kinh tế chính thức ở Việt Nam (bên cạnh doanh nghiệp nhà nước).

HTX trở thành phổ biến, thay thế dần kinh tế cá thể và đội sản xuất. Trong giai đoạn chống Mỹ, cứu nước, ở miền bắc, khi hầu hết lực lượng thanh niên ra mặt trận, HTX nông nghiệp đã có vai trò vô cùng quan trọng duy trì và phát triển sản xuất, đảm bảo hậu phương ổn định và cung cấp lương thực, thực phẩm cho nhân dân miền bắc và tiền tuyến lớn miền nam. Đến năm 1986, cả nước có 73.470 HTX, trong đó có 17.022 HTX nông nghiệp, 32.034 HTX công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và 24.414 HTX khác. TS Đào Trung Chính, Phó Tổng Cục trưởng Tổng cục Quản lý đất đai, Bộ Tài nguyên và Môi trường cho rằng “Sự phát triển nhanh chóng về mặt số lượng của HTX trong giai đoạn 1955-1986 được giải thích bởi sự đề cao tuyệt đối của Nhà nước đối với kinh tế tập thể, trong khi đó vai trò của kinh tế hộ, kinh tế tư nhân lại bị phủ định”. Đồng chí Lưu Đức Khải, Trưởng ban Chính sách phát triển nông thôn, Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương cũng nhận định “Sở hữu tập thể và sản xuất tập thể được đề cao gần như tuyệt đối, trong khi đó vai trò kinh tế hộ, kinh tế cá thể ít được quan tâm”. Sự đề cao vai trò của kinh tế hợp tác có thể xuất phát từ nguyên nhân chính về nhận thức là kinh tế hộ, kinh tế cá thể gắn với sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, là phương thức sản xuất lạc hậu về lịch sử vì là nguyên nhân dẫn tới bóc lột. Vì vậy, kinh tế hợp tác cần thay thế kinh tế hộ, kinh tế cá thể, xóa bỏ tư hữu về tư liệu sản xuất để xóa bỏ bóc lột. Xã viên ở một HTX nông nghiệp như vậy là người làm công trong HTX, được HTX điều động làm các công việc khác nhau, song không chịu trách nhiệm đến cùng về sản phẩm cây, con nào cụ thể của HTX nông nghiệp, thực chất không làm chức năng đầy đủ của một người nông dân.

Năm 1981, Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa V ra Chỉ thị số 100/CT-TW ngày 13-01-1981 về khoán sản phẩm đến nhóm lao động và người lao động trong HTX nông nghiệp. Đây là khâu đột phá đầu tiên để chặn đà sa sút sản xuất nông nghiệp. Kết quả, đến năm 1986, nước ta đã đạt sản lượng lương thực 18,4 triệu tấn, tăng 4 triệu tấn so với năm 1980. Tiếp đó, Nghị quyết 10/NQ-TW ngày 05-04-1988 về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp được ban hành (gọi tắt là Khoán 10) đã xác định HTX nông nghiệp là đơn vị chủ quản, hộ gia đình xã viên là đơn vị kinh tế tự chủ nhận khoán với HTX. Cơ chế khoán đã đem lại sự chuyển biến rõ rệt trong sản xuất nông nghiệp. Sản lượng lúa năm 1988 là 19,5 triệu tấn đến năm 1989 đạt 21,5 triệu tấn. Và năm 1989, nước ta lần đầu tiên xuất khẩu 1,2 triệu tấn gạo, mở ra một giai đoạn mới, đưa Việt Nam trở thành một cường quốc xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới.

Mặc dù đã có Chỉ thị 100/CT-TW năm 1981 về khoán sản phẩm đến nhóm lao động và người lao động trong HTX nông nghiệp, Nghị quyết 10/NQ-TW năm 1988 về Khoán 10; 2 Luật HTX (năm 1996 và 2003) và 2 Nghị định của Chính phủ (năm 1997 và 2005), nhưng số lượng HTX không những không tăng mà ngày càng giảm đi đáng kể.

Theo TS Nguyễn Mạnh Cường, Viện trưởng Viện Phát triển kinh tế hợp tác (Liên minh HTX Việt Nam), trong giai đoạn 1986-1996, số lượng HTX bị giảm đi 3/4 (năm 1986 cả nước có 73.470 HTX, đến năm 1996 chỉ còn 18.607 HTX). Đến năm 2003, tức là sau 17 năm kể từ khi đất nước tiến hành công cuộc đổi mới vào năm 1986, cả nước chỉ còn 14.000 HTX, bằng 75% số lượng HTX năm 1996 và bằng 19% số lượng HTX năm 1986, tức là 81% HTX đã bị giải thể hoặc sáp nhập. Trong 10 năm gần đây, kinh tế HTX có bước phục hồi mạnh về số lượng.

Đến năm 2013, cả nước có 19.800 HTX (trong đó có 10.339 HTX nông nghiệp), tăng 41% so với năm 2003. Tuy nhiên, so với khi bắt đầu bước vào thời kỳ đổi mới (năm 1986) thì số lượng HTX năm 2013 cũng chỉ bằng khoảng 27%. Đóng góp của khu vực kinh tế hợp tác vào tăng trưởng kinh tế chung của cả nước (GDP) có xu hướng giảm dần. Trong giai đoạn 1995-2003, khu vực này đóng góp khoảng 8,5% GDP. Đến giai đoạn 2005-2010, khu vực này chỉ còn đóng góp bình quân khoảng 5,76% GDP.

Đến năm 2013, cả nước có 19.800 HTX và gần 380 nghìn tổ hợp tác với 13,5 triệu xã viên, tổ viên. Lực lượng lao động này chiếm 25,4% tổng số lao động cả nước (53,25 triệu người) nhưng chỉ đóng góp khoảng 5% GDP cả nước. Theo Liên minh HTX Việt Nam, lợi nhuận bình quân của một HTX năm 2014 là 246 triệu đồng/năm, tức là một ngày chỉ có 670 nghìn đồng. Theo Bộ trưởng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Cao Đức Phát và Th.S Nguyễn Văn Quý (Ban Kinh tế Trung ương) chỉ có khoảng 10% số HTX nông nghiệp làm ăn đạt hiệu quả tốt, khoảng 60-70% số HTX hoạt động cầm chừng, không hiệu quả, còn lại khoảng 20-30% HTX đã phải ngừng hoạt động. Chỉ 9% HTX thực hiện tiêu thụ sản phẩm của xã viên. Như vậy, với số lượng khoảng 1 nghìn HTX hoạt động có hiệu quả trong tổng số hơn 10.339 HTX nông nghiệp ở 9.000 xã của cả nước, với số hộ xã viên chiếm khoảng 4 – 5% hộ nông dân cả nước, thì mô hình HTX hiện nay không thể đóng vai trò dẫn dắt nông nghiệp Việt Nam đi lên trong thời kỳ cạnh tranh toàn cầu.

Sau 60 năm phát triển mô hình kinh tế hợp tác, tuy những năm gần đây có gia tăng về số lượng, song về tổng thể không thể tiếp tục quản lý nhà nước, quản lý từng HTX như thời gian qua mà cần phải có tư duy mới về kinh tế hợp tác và có bước đột phá về hiệu quả kinh tế, nâng cao đáng kể thu nhập của xã viên so với người không vào HTX, nâng cao tỷ lệ đóng góp của khu vực kinh tế hợp tác trong tổng thể nền kinh tế quốc dân. Dự thảo Báo cáo tổng kết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về một số vấn đề lý luận và thực tiễn 30 năm đổi mới đã nêu rõ: “Kinh tế tập thể hiện nay rất yếu (chỉ chiếm 5-6% GDP), vậy đến bao giờ nó mới cùng kinh tế nhà nước đóng vai trò nền tảng? Cần có tư duy mới về kinh tế tập thể, cần nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế về phát triển HTX”.

II – Nhận thức rõ hơn bản chất và vai trò của kinh tế tập thể và HTX qua thực tiễn quốc tế

Phong trào hợp tác xã được khởi xướng tại châu Âu từ cuối thế kỷ 18 gắn với cuộc cách mạng công nghiệp và sự phát triển của chủ nghĩa tư bản. Tại Anh, nơi diễn ra cuộc cách mạng công nghiệp sớm nhất, các cơ sở dệt tư nhân nhỏ lẻ đứng trước thực tế không thể cạnh tranh được với các nhà máy dệt công nghiệp tư bản quy mô lớn mới được hình thành, có nguy cơ bị phá sản. Để nâng cao sức cạnh tranh trước các doanh nghiệp tư bản, theo tinh thần tự cứu lấy mình, ngày 24/10/1844, 28 người thợ dệt ở Rochdale đã thành lập Liên minh những người tiên phong công bằng Rochdale. Đây được xem là mô hình hợp tác xã mua bán đầu tiên trên thế giới thông qua việc mua với số lượng lớn để mua rẻ hơn. Còn tại Đức, năm 1847, Hermann Schulze -Delitzsch (1808-1883) đã thúc đẩy sự hình thành các hợp tác xã cung cấp nguyên vật liệu đầu vào với giá rẻ cho các thợ mộc và thợ đóng giày đang có nguy cơ phá sản, nhờ đó mà nâng cao được khả năng cạnh tranh với các doanh nghiệp đồ gỗ và da giày, thoát khỏi nguy cơ bị phá sản. Đến năm 1850, ông khởi xướng việc thành lập các hợp tác xã tín dụng đầu tiên, được gọi là “Hiệp hội tiên tiến”. Ông cũng đã soạn thảo một đạo luật hợp tác xã mà năm 1867 đã trở thành Luật HTX của Liên bang Bắc Đức (cách đây gần 150 năm) và năm 1889 trở thành bộ luật HTX của toàn nước Đức. Đến đầu thế kỷ 21, phong trào hợp tác xã phát triển đến 180 nước và vùng lãnh thổ với nhiều loại hình HTX trong các lĩnh vực khác nhau như HTX nông nghiệp, HTX dịch vụ, HTX mua bán, HTX tín dụng, HTX nhà ở, HTX bác sĩ, HTX trường học, HTX năng lượng, HTX chăm sóc người già,…

Từ thực tiễn 150 năm hình thành và phát triển HTX ở các nước trên thế giới, có thể đúc kết 9 nguyên tắc thành lập và hoạt động cơ bản của các HTX như sau: (1) Tự giúp đỡ lẫn nhau; (2) Tự chịu trách nhiệm; (3) Tự quản lý; (4) Mỗi xã viên có quyền biểu quyết như nhau; (5) Bản chất kép(xã viên vừa là chủ sở hữu HTX vừa là khách hàng mua (sử dụng) dịch vụ của HTX); (6) Thị trường kép(thị trường bên ngoài là thị trường tiêu thụ hàng hóa của chính các xã viên HTX, còn thị trường bên trong là thị trường dịch vụ do HTX cung cấp cho xã viên. Tức là sản phẩm của HTX chính là các dịch vụ mà HTX cung ứng cho xã viên chứ không phải là các sản phẩm do bản thân các xã viên tạo ra và sẽ bán ra thị trường xã hội. Vì các xã viên vẫn tiếp tục sản xuất, kinh doanh nên họ không đem tư liệu sản xuất, đất đai, nhà xưởng, vốn liếng của mình góp vào HTX để hình thành tài sản chung.

Họ chỉ góp vốn để HTX có thể hoạt động và cung cấp dịch vụ lo đầu vào và tiêu thụ đầu ra cho họ. Các HTX luôn có vai trò quan trọng trong việc tiêu thụ sản phẩm của các xã viên); (7) Sở hữu kép và hạch toán kép (các xã viên sở hữu tài sản của mình để sản xuất, kinh doanh, đồng thời sở hữu một phần trong tài sản, lợi nhuận của HTX. Với tư cách là một doanh nghiệp, HTX cung ứng các dịch vụ cho xã viên có thu tiền để trang trải chi phí, duy trì hoạt động, không để lỗ.

Do đó phải hạch toán hoạt động của HTX.

Còn mỗi xã viên do có tài sản riêng và sản xuất, kinh doanh riêng nên phải hạch toán hoạt động sản xuất, kinh doanh của mình, tự chịu trách nhiệm về lời, lỗ của mình). Do đó, khi đánh giá hiệu quả hoạt động của HTX không phải chủ yếu là đánh giá xem HTX đó thu được lợi nhuận là bao nhiêu mà phải đánh giá thu nhập từng hộ xã viên có được nhờ sử dụng các dịch vụ do HTX cung ứng là bao nhiêu, so với thu nhập của các hộ không tham gia HTX thì thế nào; (8) Giám sát kép(định kỳ Liên minh HTX cấp trên tiến hành kiểm tra, giám sát hoạt động của các HTX và bản thân từng HTX cũng tự kiểm tra, giám sát hoạt động của mình thông qua hoạt động của Ban Kiểm soát).

Chính nhờ phương thức giám sát kép này mà tỷ lệ phá sản của các HTX tại Đức là 0,06% năm 2012, thấp nhất trong tất cả các loại hình doanh nghiệp. Sau 150 năm phát triển, các HTX đang hoạt động ở 180 nước và vùng lãnh thổ, với hơn 800 triệu xã viên, tạo việc làm cho 3 tỷ người (dân số thế giới là 7 tỷ người). Riêng ở châu Âu có gần 290.000 HTX với 140 triệu xã viên, trong đó có 30.000 HTX nông nghiệp; (9) Có trách nhiệm với xã hội.

Tóm lại, HTX là loại hình hoạt động kinh tế “sinh sau, đẻ muộn” so với loại hình kinh tế cá thể, kinh tế hộ và loại hình doanh nghiệp tư bản và đang tiếp tục phát triển.

Trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, bản chất của HTX không phải là sự phủ định, sự thay thế kinh tế hộ, mà làm cho việc sản xuất cá thể của các xã viên có sức cạnh tranh cao hơn, thu nhập của xã viên cao hơn trong điều kiện cạnh tranh ngày càng khốc liệt hơn, thông qua việc HTX cung cấp các dịch vụ đầu vào với giá thấp, chất lượng cao cho các hộ xã viên, qua việc phối hợp kế hoạch sản xuất, kinh doanh của các hộ và tổ chức tiêu thụ sản phẩm của các hộ…

Theo Nhandan.vn