Thứ hai,  17/05/2021

Nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn: Khó khăn và thách thức

LSO-Nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn vẫn đang là vấn đề được nhiều tầng lớp nhân dân quan tâm. Trong những năm qua, sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đã cải thiện đáng kể môi trường và giải quyết tình trạng thiếu nước sinh hoạt ở nhiều địa phương. Tuy nhiên, công tác này còn gặp không ít khó khăn và thách thức.Nếu như những năm trước đây người dân các vùng nông thôn phải đi gánh từng gánh nước về nấu nướng, mọi sinh hoạt khác phải ra sông suối thì bây giờ đó là hình ảnh hiếm thấy. Tại nhiều vùng, hệ thống các công trình nước sạch đã dẫn nước về tận các hộ gia đình. Để có được kết quả đó, phải kể đến sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đầu tư các công trình nước sạch và vệ sinh môi trường, góp phần cải thiện đời sống cho người dân các vùng nông thôn. Ông Trần Hoành Sơn, Giám đốc Trung tâm nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn cho biết: Tính đến hết năm 2010, có 440.000 người dân nông thôn có nguồn nước hợp...

LSO-Nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn vẫn đang là vấn đề được nhiều tầng lớp nhân dân quan tâm. Trong những năm qua, sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đã cải thiện đáng kể môi trường và giải quyết tình trạng thiếu nước sinh hoạt ở nhiều địa phương. Tuy nhiên, công tác này còn gặp không ít khó khăn và thách thức.
Nếu như những năm trước đây người dân các vùng nông thôn phải đi gánh từng gánh nước về nấu nướng, mọi sinh hoạt khác phải ra sông suối thì bây giờ đó là hình ảnh hiếm thấy. Tại nhiều vùng, hệ thống các công trình nước sạch đã dẫn nước về tận các hộ gia đình. Để có được kết quả đó, phải kể đến sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đầu tư các công trình nước sạch và vệ sinh môi trường, góp phần cải thiện đời sống cho người dân các vùng nông thôn.
Ông Trần Hoành Sơn, Giám đốc Trung tâm nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn cho biết: Tính đến hết năm 2010, có 440.000 người dân nông thôn có nguồn nước hợp vệ sinh để sử dụng, đạt tỷ lệ 75%, với số nước tối thiểu là 60 lít/ người/ ngày, trong đó, có khoảng 37% dân số được sử dụng nước sạch theo tiêu chuẩn của Bộ Y tế, 60% số hộ có nhà tiêu hợp vệ sinh, 60% chuồng trại chăn nuôi được xử lý chất thải và thực hiện tốt vệ sinh môi trường; 28% số trường học, 59% trụ sở UBND xã, 88% trạm y tế có công trình nước sạch và nhà tiêu hợp vệ sinh.
75% người dân vùng nông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh
Cùng với đó, công tác tuyên truyền được các cấp, các ngành đẩy mạnh nên ý thức bảo vệ các công trình nước sạch và vệ sinh môi trường được nâng lên. Sự nỗ lực của các cấp, các ngành đã mang lại hiệu quả rõ rệt cho người dân vùng nông thôn, tuy nhiên, công tác triển khai, xây dựng và quản lý các công trình nước sạch và vệ sinh môi trường còn gặp phải không ít khó khăn, thách thức. Nguồn vốn được đầu tư từ ngân sách nhà nước còn hạn hẹp, chưa đáp ứng được nhu cầu, trong khi đời sống của người dân nông thôn còn khó khăn, nên việc huy động đóng góp trong nhân dân còn ít, nhất là trong thời gian tới, chương trình sẽ thực hiện ở những địa bàn không thuận lợi về điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội. Hàng năm, ngân sách đầu tư xây dựng các công trình nước sạch khoảng 10 tỷ đồng cho toàn tỉnh, trong khi việc triển khai tại các khu vực khó khăn phải cần tới khoảng 40 đến 50 tỷ đồng cho 1 xã. Cơ cấu phân bổ vốn còn chưa hợp lý, vốn đầu tư chủ yếu dành cho xây dựng các công trình, phần chi cho sự nghiệp chiếm tỷ lệ nhỏ.
Hiện nay, vẫn chưa áp dụng được chế độ thu phí nước đối với người dân, vì vậy, không có kinh phí để hỗ trợ quá trình duy tu, bảo dưỡng. Vốn đầu tư chủ yếu tập trung vào các công trình nước sạch, trong khi, tỷ lệ số hộ có nhà tiêu hợp vệ sinh, chuồng trại chăn nuôi được xử lý chất thải chưa cao. Công tác vệ sinh môi trường còn chưa được quan tâm đúng mức, phương án xử lý chất thải rắn tại các huyện, thành phố vẫn là chôn lấp hoặc lưu giữ chất thải lộ thiên, chưa hợp vệ sinh gây ô nhiễm môi trường, tại các xã, rác thải do người dân tự xử lý. Định mức cho xây dựng nhà vệ sinh tại các trường học, trụ sở uỷ ban xã, trạm y tế chưa cao. Đa số các công trình đều huy động sự đóng góp từ người dân, nhưng so với thu nhập của đồng bào vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn thì số tiền đóng góp còn cao. Sau khi đưa vào sử dụng các công trình được giao cho xã quản lý, khai thác và bảo vệ nên tính bền vững chưa cao. Để sử dụng các công trình có hiệu quả thì cần có sự vào cuộc của chính những người được hưởng lợi, tuy nhiên, vẫn còn một bộ phận người dân thiếu ý thức làm hư hỏng các công trình nước sạch làm giảm hiệu quả các công trình, tình trạng xả rác bừa bãi vẫn diễn ra gây mất mĩ quan, ảnh hưởng đến môi trường sống.

Để giúp người dân vùng nông thôn được tiếp cận với nước sạch và vệ sinh môi trường, trong thời gian tới, các cấp chính quyền cần tiếp tục ưu tiên đầu tư để cải thiện điều kiện cấp nước và vệ sinh cho khu vực khó khăn. Bên cạnh xây dựng công trình cần quan tâm giải quyết đồng bộ các yếu tố: xây dựng, quản lý, công nghệ, nâng cao năng lực cộng đồng và truyền thông nâng cao nhận thức. Cần ban hành các văn bản qui phạm pháp luật để cụ thể hoá nhiệm vụ, vai trò của chính quyền địa phương, người dân và cộng đồng trong quản lý, bảo vệ. Cùng với đó, cần quan tâm, chú trọng vào việc trao quyền cho cộng đồng và lấy cộng đồng làm trọng tâm.

Hoàng Vương