Thứ bảy,  27/11/2021

Chất lượng nước ăn uống và sinh hoạt: Còn nhiều bất cập

LSO-Năm 2010, Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh Lạng Sơn đã lấy 424 mẫu nước của các nhà máy nước, Trạm cấp nước tập trung cho cụm dân cư trên 500 người trên địa bàn tỉnh để làm xét nghiệm, kết quả trong số này chỉ 187 mẫu (44%) đạt tiêu chuẩn vệ sinh. Số còn lại đều không đạt tiêu chuẩn vi sinh hoặc lý hóa, trong đó có mẫu không đạt cả chỉ tiêu vi sinh và lý hóa.Trên địa bàn Lạng Sơn hiện có 26 nhà máy, trạm cấp nước tập trung cho cụm dân cư trên 500 người sử dụng. Thực hiện Thông tư 15/2006 ngày 30/11/2006 của Bộ Y tế về hướng dẫn kiểm tra nước sạch, nước ăn uống và nhà tiêu hộ gia đình, trong năm 2010, Trung tâm Y tế dự phòng Lạng Sơn đã trực tiếp quản lý 25 trạm cấp nước. Theo đánh giá của Trung tâm, trong số này mới có 5 trạm có quy trình xử lý nước, số còn lại hệ thống xử lý còn thô sơ, lạc hậu, một số trạm cấp nước không có hệ thống bể chứa, bể lắng, bể lọc... nên ảnh...

LSO-Năm 2010, Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh Lạng Sơn đã lấy 424 mẫu nước của các nhà máy nước, Trạm cấp nước tập trung cho cụm dân cư trên 500 người trên địa bàn tỉnh để làm xét nghiệm, kết quả trong số này chỉ 187 mẫu (44%) đạt tiêu chuẩn vệ sinh. Số còn lại đều không đạt tiêu chuẩn vi sinh hoặc lý hóa, trong đó có mẫu không đạt cả chỉ tiêu vi sinh và lý hóa.
Trên địa bàn Lạng Sơn hiện có 26 nhà máy, trạm cấp nước tập trung cho cụm dân cư trên 500 người sử dụng. Thực hiện Thông tư 15/2006 ngày 30/11/2006 của Bộ Y tế về hướng dẫn kiểm tra nước sạch, nước ăn uống và nhà tiêu hộ gia đình, trong năm 2010, Trung tâm Y tế dự phòng Lạng Sơn đã trực tiếp quản lý 25 trạm cấp nước. Theo đánh giá của Trung tâm, trong số này mới có 5 trạm có quy trình xử lý nước, số còn lại hệ thống xử lý còn thô sơ, lạc hậu, một số trạm cấp nước không có hệ thống bể chứa, bể lắng, bể lọc… nên ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng nước phục vụ ăn uống và sinh hoạt.
Dân cư ở nhiều vùng nông thôn trên địa bàn tỉnh vẫn đang sử dụng nước sinh hoạt chưa qua xử lý
Bác sĩ Nguyễn Xuân Trường, Giám đốc Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh cho biết: Theo quy định, mẫu nước đạt tiêu chuẩn vệ sinh phải đạt cả các chỉ tiêu về lý hóa và vi sinh vật, song thực tế qua xét nghiệm, mẫu nước đạt tất cả các chỉ tiêu là rất ít, hầu hết các mẫu chưa đảm bảo về hàm lượng Clo dư, nhiều mẫu không đạt chỉ tiêu lý hóa (hàm lượng CaCO3, hàm lượng ô xy hóa, hàm lượng NO3…) hoặc chỉ tiêu vi sinh vật (vi khuẩn E.Coli, Coliform) hoặc không đạt cả hai chỉ tiêu về cả vi sinh và lý hóa. Điều đáng nói, do quy trình xử lý nước chưa đảm bảo, một số trạm cấp nước không có khử khuẩn nguồn nước nên về mùa mưa, nước thường bị nhiễm vi sinh vật.
Nước ăn uống và sinh hoạt ảnh hưởng trực tiếp tới sức khỏe con người, do vậy việc kiểm tra, giám sát chất lượng nước có vai trò đặc biệt quan trọng. Ngoài Thông tư 15/2006 thì mới đây nhất, ngày 17/6/2009, Bộ Y tế đã có 2 Thông tư số 04 và 05/2009/ TT – BYT ban hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước ăn uống và Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước sinh hoạt. Đây là những văn bản pháp quy có tính bắt buộc thực hiện và là cơ sở cho việc kiểm tra, đánh giá chất lượng nước sử dụng cho ăn uống và sinh hoạt của nhân dân.
Ở Lạng Sơn, việc lấy mẫu giám sát triển khai tất cả các trạm cấp nước bắt đầu thực hiện từ tháng 5/2007 theo đúng tinh thần Thông tư 15/2006 của Bộ trưởng Bộ Y tế. Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh thực hiện việc giám sát thông qua các hợp đồng với nhà máy nước, trạm cấp nước; kinh phí giám sát, xét nghiệm do nhà máy nước, trạm cấp nước chi trả. Theo đó, hàng tháng, Trung tâm lấy mẫu nước (bao gồm mẫu đầu nguồn và mẫu nước tại nhà dân) để tiến hành xét nghiệm, qua đó đánh giá chất lượng nước và đề xuất biện pháp xử lý đối với các trạm cấp nước không đảm bảo vệ sinh như: vệ sinh xuang quanh khu vực cấp nước để đảm bảo vệ sinh nguồn nước, tăng cường khử khuẩn bằng CloraminB… Tuy nhiên, qua một thời gian kiểm tra và giám sát, một số cơ sở cấp nước gặp khó khăn về kinh phí nên đã đề nghị giảm tần suất giám sát 1 tháng 1 lần xuống 1 quý 1 lần và 2 tháng 1 lần. Điều này phần nào ảnh hưởng tới việc đánh giá đúng, định kỳ chất lượng nước dùng cho ăn uống và sinh hoạt, cũng như công tác phòng chống dịch bệnh, nhất là trong bối cảnh các dịch bệnh liên quan đến nước đang diễn ra hết sức phức tạp như hiện nay. Thêm một bất cập nữa là thực tế cũng như nhiều địa phương trong cả nước, ở Lạng Sơn, các trạm cấp nước tập trung cho cụm dân cư dưới 500 người, các huyện chưa quản lý được, đối với các trạm cấp nước nhỏ lẻ cung cấp nước cho dưới 500 người sử dụng thì chưa đăng ký xét nghiệm với ngành y tế.
Theo thống kê của các ngành chức năng, tính đến hết năm 2010, Lạng Sơn có 73% dân cư nông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh, 92% dân cư đô thị được dùng nước sạch. Con số này cho thấy bước tiến nhanh trong việc cải thiện tình hình cấp nước phục vụ cho ăn uống, sinh hoạt của người dân trong những năm qua ở cả khu vực đô thị và nông thôn. Tuy nhiên để đảm bảo sức khỏe cho nhân dân, bên cạnh việc bảo vệ nguồn nước, cải thiện các điều kiện công nghệ xử lý và hệ thống đường ống cấp nước, cần phải đẩy mạnh công tác kiểm tra, giám sát chất lượng nước cấp cho ăn uống và sinh hoạt của người dân, nhất là tuyến huyện, xã.

Bảo Vy