Chủ nhật,  29/01/2023

Theo lời Đảng gọi

LSO-Với những người con đã từng cầm vũ khí chiến đấu giải phóng, bảo vệ Thị xã Lạng Sơn thân yêu, những ngày tháng mười nhắc họ nhớ về quá khứ hào hùng của những năm tháng đầu xanh tuổi trẻ.

LSO-Với những người con đã từng cầm vũ khí chiến đấu giải phóng, bảo vệ Thị xã Lạng Sơn thân yêu, những ngày tháng mười nhắc họ nhớ về quá khứ hào hùng của những năm tháng đầu xanh tuổi trẻ. Trong câu chuyện đầy xúc động họ kể cho tôi nghe về những ngày tháng ấy, có đôi khi, những dấu mốc thời gian và sự kiện đã mờ nhoè đi bởi bao biến cố tháng năm và tuổi tác bào mòn. Những người con trai trẻ ngày xưa ấy nay đã là những cụ ông, cụ bà tuổi ngoại bát tuần, khác nào những ngọn đèn trước gió… Nhưng còn vẹn nguyên trong trái tim họ là dòng nhiệt huyết cách mạng và trong nỗi nhớ khôn nguôi, là màu máu đỏ của những người đồng đội đã hy sinh…

Quân và dân các dân tộc tỉnh Lạng Sơn trong ngày hội lớn của tỉnh – Ảnh: THANH SƠN

1.

 Bằng những âm sắc rất rõ ràng, cụ bà Đinh Thị Mai Hoà thong thả đọc cho tôi nghe những câu thơ của người đồng đội, đồng chí tiểu đội trưởng mang tên Việt Hùng sáng tác trong những ngày làm nhiệm vụ ở chiến khu cách mạng Bình Gia. Những câu thơ tiếng Việt lẫn với tiếng Tày Nùng thắm đượm tình nghĩa quân dân: “Tôi có người mẹ nuôi/ Hiền lành như đất mộc/ Trọn đêm qua làm bánh tiễn tôi đi/Buổi sáng nay bà rưng rưng cảm động/ Cháu đi xa nhớ gửi tin về/ Bà nghèo quá ná mì lăng hử cháu/ Cháu pây tàng khổ biết mấy mươi…/ Có chú bé mặt bỗng nhiên buồn rượi/ Môi thơ ngây vắng hẳn nụ cười tươi/ Chài pây quây ná mì câu sloon hát/ Rồi tay em siết chặt lấy tay tôi/ Mắt trong mắt lòng người hầu rộng mở/ Tình mến thương như rộng cả bầu trời…“.

Đinh Thị Mai Hoà sống những ngày tuổi thơ êm đềm nơi phố chợ Kỳ Lừa. Thế rồi đến những ngày giặc giã, như bao bạn bè cùng trang lứa, người con gái có trái tim nhân hậu ấy đã không thể làm ngơ trước cảnh đồng bào mình đói khổ. Năm 1945, Thị xã Lạng Sơn đầy những người hành khất. Tham gia vào đội Cứu tế, Mai Hoà và những người bạn cùng chí hướng đã tự nguyện đi cứu đói đồng bào, lo chỗ ăn, chỗ ở cho họ rồi tìm cách đưa họ về lại quê hương, bản quán. Khi công tác cứu tế đã qua, trước những yêu cầu mới của cách mạng, Mai Hoà đã nhiều lần được giao nhiệm vụ vận chuyển vũ khí qua sông Kỳ Cùng. Không ai có thể ngờ rằng gánh quà hay thúng hoa quả đội trên đầu cô gái dịu dàng mảnh mai ấy lại có thể là vũ khí đạn dược của quân ta đang vận chuyển sâu vào vùng địch. Nhưng rồi  xảy ra một biến cố lớn, khiến sau đó chị Mai Hoà phải rời vùng địch tạm chiếm rút ra căn cứ cách mạng. Ấy là ngày 20 tháng 12 năm 1946, quân Pháp tiến đánh Lạng Sơn. Phía Bắc, chúng tiến quân lên chợ Kỳ Lừa. Địa điểm ta bố trí quân mai phục là gốc si to ở giữa chợ và Hội quán Kỳ Lừa. Mai Hoà là chiến sỹ của nhóm đồng chí Nguyễn Văn Dưỡng phụ trách. Khi địch tiến quân, đồng chí Nguyễn Văn Dưỡng và đồng đội đã ném lựu đạn và dùng súng bắn trả. Trước thế địch còn mạnh, cả tiểu đội thực hiện phương án rút quân. Mai Hoà đã phải cùng đồng đội vượt qua mười hai ngôi nhà rồi thoát ra phía bờ sông. Đồng chí Nguyễn Văn Dưỡng bị địch bắt. Chúng trói anh vào gốc cây lai (trên đường Bắc Sơn bây giờ) và bắn anh. Trước lúc hy sinh, Nguyễn Văn Dưỡng hô vang khẩu hiệu: “Cách mạng muôn năm! Hồ Chí Minh muôn năm!”.

Đó là một ngày tháng 12 đen tối!. Lẽ ra phải rút ra căn cứ ngay, song Mai Hoà đã không thể đành lòng khi thấy xác đồng đội còn bị quân thù bêu giữa phố. Chị trở lại phố Kỳ Lừa cùng với gia đình anh Dưỡng bàn cách giành lại xác anh. Ngày hôm sau, Mai Hoà tìm cách tiếp cận hiện trường. Cả một đoạn phố vắng lặng đến rợn người vì đồng bào đã di tản chỉ còn bọn địch, bọn mật thám là vẫn rình mò. Chờ mãi đến sẩm chiều mới thấy một người đàn ông quẩy thùng ra gánh nước ở Giếng Vuông. Không bỏ qua cơ hội, Mai Hoà gặp ngay người này và thương thuyết. Không hiểu cô gái đã nói những gì với người đàn ông mà đã cảm hoá được anh ta. Người đàn ông nhận lời giúp đỡ và khẩn trương tìm ván đóng áo quan cho người xấu số. Đêm hôm đó, lợi dụng lúc bọn địch sơ hở, chị Mai Hoà cùng người đàn ông nọ mới gấp rút hạ thi thể anh Dưỡng xuống, liệm và nhập quan cho anh. Cho tới khi chính tay mình được lau đi dòng máu đã khô trên thi thể người đồng đội đã hy sinh, Mai Hoà mới tạm yên lòng. Mờ sáng ngày hôm sau, chôn cất đồng đội xong, chị Mai Hoà được đồng chí Phạm Minh Tuệ cử đồng chí Xuân Lan vào đón chị ra ngoài căn cứ. Năm đó Đinh Thị Mai Hoà vừa tròn hai mươi mốt tuổi. Ra hoạt động ngoài vùng căn cứ, chị Mai Hoà lấy bí danh là Minh Thoa.

2.

Sau khi Nguyễn Văn Dưỡng hy sinh, công tác hoạt động trong vùng địch càng trở nên khó khăn hơn. Tình thế cam go, hơn lúc nào hết, từng trái lựu đạn, từng lá truyền đơn từ căn cứ chuyển vào nội thị lại thêm muôn phần hiểm nguy. Nhóm cán bộ nằm vùng còn lại rất mỏng manh, gồm phần nhiều là phụ nữ như Nguyễn Thị Khiêm, Nguyễn Thị Mai, Đinh Kim Dần, Nguyễn Thị Thao… Là một cô gái khoẻ mạnh, gan dạ, Nguyễn Thị Khiêm thường nhận về mình những công việc khó khăn: chuyển tài liệu, rải truyền đơn…, chị thường tự tìm cách xử lý nhiệm vụ được giao. Năm 1947, không may Nguyễn Thị Khiêm bị địch bắt. Biết chị là một đầu mối quan trọng của cách mạng, bọn địch giải chị về đến Sơ Cẩm và ngay lấp tức xét hỏi. Đòn roi không khuất phục được Nguyễn Thị Khiêm, bọn chúng đã tra tấn chị bằng những hình thức vô cùng bỉ ổi, vô nhân đạo. Chúng dùng kẹp điện kẹp vào những nơi nhạy cảm trên cơ thể và cho điện giật. Nguyễn Thị Khiêm ngất đi, chúng lại dội nước, tiêm thuốc cho chị tỉnh lại. Chị đã bao lần chết đi sống lại trong đau đớn và tủi nhục nhưng rồi nỗi nhục mất nước và lòng căm thù quân địch đã giúp chị vượt qua tất cả. Không khai thác được gì ở chị, chúng giam Khiêm vào đại lao cùng với một người tù nam, trong khi vẫn không cho chị mặc quần áo. Khi chỉ còn lại hai người trong phòng giam, người bạn tù hỏi Khiêm “Chị bị bắt vì tội gì?”. Nguyễn Thị Khiêm trả lời” “Tôi không có tội! Tôi không biết vì sao tôi bị bắt!”. Sau thời gian dài cầm tù, tra tấn mà không có đủ chứng cứ định tội, bọn địch đành phải nới tay với chị Khiêm. Chúng cho chị ra lao động khổ sai và đến cuối năm 1948, chúng buộc phải thả chị ra.

Ngày 17 tháng 10 năm 1950, hoà vào dòng người giải phòng, tiếp quản thị xã, hơn ai hết, Nguyễn Thị Khiêm hiểu rõ cái giá phải trả cho ngày tự do. Cũng sau ngày giải phóng thị xã Lạng Sơn, chị Khiêm mới biết gia đình mình còn có hai người anh em trai tham gia hoạt động cách mạng. Người anh trai là Nguyễn Trọng Tách đã lập công bằng việc tổ chức đưa một người ngoại quốc (là cơ sở cách mạng của ta) từ vùng địch ra vùng căn cứ an toàn. Người em trai là Nguyễn Trọng Quảng (bí danh Lê Tuấn Thọ- sau này ông là Tỉnh đội trưởng Tỉnh đội Tuyên Quang) trong một trận địch vây rát đã bị đạn địch xuyên rách áo. Đến bây giờ, ông vẫn giữ tấm áo ấy làm kỷ niệm. Cũng sau ngay giải phóng Lạng Sơn, chị Khiêm mới gặp lại người bạn tù (tên là Từ) cùng bị địch giam trong đại lao và biết anh cũng là đồng đội. Gặp chị, anh Từ đã nói “Bọn địch tra tấn dã man quá, nhưng vì thấy chị chịu được nên tôi nghĩ mình cũng nhất định phải chịu được, chứ nếu mình khai thì hèn quá!”.

Trong căn nhà khá tĩnh lặng ngay giữa phố chợ Kỳ Lừa, khi tôi hỏi chuyện bà Khiêm, chị Lê Thị Phương, người con gái út của bà Khiêm luôn góp vào câu chuyện những chi tiết sống động mà chị đã từng nghe mẹ kể nhiều lần, chị nói: “Phải lúc vui lắm mẹ tôi mới kể. Hôm nay cô được nghe cụ kể bấy nhiêu chuyện cũng là nhiều rồi…“. Và chị Phương trân trọng đưa tôi xem tận mắt tấm bằng danh hiệu Huy chương kháng chiến hạng Nhì của Chủ tịch nước tặng cho bà Nguyễn Thị Khiêm, phần thưởng lớn nhất đối với quãng đời hoạt động cách mạng của bà…

Lời kết:

Ngày 25 tháng 8 năm 1999, UBND Thị xã Lạng Sơn (nay là Thành phố Lạng Sơn) đã ra quyết định số 38 công nhận việc thành lập Ban liên lạc Kháng chiến bảo vệ và giải phóng Thị xã Lạng Sơn. Thành viên Ban liên lạc là những người con của Thị xã Lạng Sơn đã tham gia hoạt động cách mạng kháng chiến, bảo vệ và giải phóng thị xã. Từ khi thành lập đến nay, Thị uỷ (nay là Thành uỷ) luôn có sự bảo trợ nhất định về tinh thần và vật chất. Cũng từ khi thành lập đến nay, Ban liên lạc đã tiễn đưa hơn năm mươi cụ về nơi an nghỉ cuối cùng!. Trong lúc trò chuyện với tôi, cụ Đinh Thị Mai Hoà (hiện là Trưởng Ban liên lạc) luôn nhắc đi nhắc lại với tôi rằng: “Nếu chị muốn viết báo, còn nhiều người xứng đáng hơn tôi, như Tướng Lê Sơn, như đồng chí Đinh Như Thành, như liệt sỹ Nguyễn Văn Dưỡng, như…  giá mà họ còn sống!”. Vâng, giá mà họ còn sống!. Tôi biết cụ Mai Hoà luôn dành thật nhiều tình cảm và niềm trân trọng cho đồng đội. Nhưng với thế hệ sinh ra sau chiến tranh như chúng tôi, thì những người hoạt động cách mạng cả một đời theo Đảng như cụ Mai Hoà, cụ Khiêm thực sự là những tấm gương chói lói, những nhân chứng bằng xương bằng thịt về tấm lòng trung trinh với Đảng, với Bác Hồ, với con đường mà mình đã chọn. Chính nhờ những con người như thế, những tấm lòng như thế, Đảng đã mang về mùa xuân cho đất nước…       

HOÀNG VI