Thứ sáu,  30/07/2021

Ngẩn ngơ cọn nước vùng cao

LSO-Ai có dịp đến xã Hồng Thái, huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn sẽ được chiêm ngưỡng những chiếc cọn nước sừng sững, rì rầm bên suối. Không chỉ là nông cụ đắc lực trong sản xuất nông nghiệp, những chiếc cọn nước đã trở thành hình ảnh quen thuộc của bản làng miền núi và là nét văn hoá đặc trưng của đồng bào Nùng, Tày nơi đây.Nằm cách trung tâm huyện Bình Gia gần 10km, xã Hồng Thái vẫn còn lưu giữ được nhiều nét văn hoá truyền thống đặc sắc của đồng bào các dân tộc miền núi. Cùng với điệu then, sli, lượn của dân tộc Tày, Nùng, những ngôi nhà sàn bốn mái lợp ngói âm dương, nơi đây còn tồn tại những chiếc cọn nước - một trong những phát minh quan trọng của đồng bào dân tộc gắn với sự hình thành và phát triển của nền văn minh lúa nước miền núi đã có từ lâu đời.Những cọn nước này vẫn ngày đêm cần mẫn, miệt mài đưa nước từ suối tưới đẫm các chân ruộng bậc thang, những cánh đồng. Từ mùa này sang mùa khác, bất kể ngày hay đêm,...

LSO-Ai có dịp đến xã Hồng Thái, huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn sẽ được chiêm ngưỡng những chiếc cọn nước sừng sững, rì rầm bên suối. Không chỉ là nông cụ đắc lực trong sản xuất nông nghiệp, những chiếc cọn nước đã trở thành hình ảnh quen thuộc của bản làng miền núi và là nét văn hoá đặc trưng của đồng bào Nùng, Tày nơi đây.
Nằm cách trung tâm huyện Bình Gia gần 10km, xã Hồng Thái vẫn còn lưu giữ được nhiều nét văn hoá truyền thống đặc sắc của đồng bào các dân tộc miền núi. Cùng với điệu then, sli, lượn của dân tộc Tày, Nùng, những ngôi nhà sàn bốn mái lợp ngói âm dương, nơi đây còn tồn tại những chiếc cọn nước – một trong những phát minh quan trọng của đồng bào dân tộc gắn với sự hình thành và phát triển của nền văn minh lúa nước miền núi đã có từ lâu đời.
Những cọn nước này vẫn ngày đêm cần mẫn, miệt mài đưa nước từ suối tưới đẫm các chân ruộng bậc thang, những cánh đồng. Từ mùa này sang mùa khác, bất kể ngày hay đêm, bất kể mưa hay nắng, cọn nước vẫn quay đều, quay đều như một cỗ máy không ngừng nghỉ, góp phần đem đến một vụ mùa bội thu, cuộc sống no đủ cho bà con thôn bản. Bà Nông Thị Kiên, một người dân thôn Nà Bản cho hay người Hồng Thái bây giờ cũng không biết rõ cọn nước có từ bao giờ, chỉ biết rằng nó đã được cha ông mình sáng tạo ra, được các thế hệ gìn giữ và bảo tồn cho đến ngày nay. Người Hồng Thái, từ khi sinh ra đã thấy những cọn nước khổng lồ ngày đêm làm việc bên bờ suối, nghe tiếng nước dội ào từ ống bương xuống những chiếc máng đổ ra từng chân ruộng. Bình minh lên khi trời còn mờ sương, tiếng cọn nước như lời thủ thỉ của núi rừng đánh thức bản làng. Hoàng hôn xuống, tiếng cọn nước du dương, êm ái như tiếng đàn, xoa bớt nỗi mệt nhọc của người nông dân sau một ngày lao động vất vả. Cùng với lời ru ầu ơ của mẹ, của bà, tiếng rầm rì của cọn nước đã trở nên gần gũi và
thân thương trong miền ký ức tuổi thơ của mỗi người.
Cọn nước – gắn liền với đời sống sinh hoạt của đồng bào miền núi
Về cấu tạo, cọn nước gồm có hai phần chính: đập và guồng. Đập được làm bằng hàng cọc tre, đóng chắc chắn xuống lòng suối theo hình vòng cung, chắn ngang dòng chảy, hướng dòng nước chảy về phía guồng nước. Guồng là một bánh xe khổng lồ có đường kính từ 5 mét đến 10 mét có cấu tạo giống như bánh xe đạp. Trục quay làm bằng loại gỗ dổi chắc chắn, có khả năng chịu mài mòn. Nan hoa làm bằng tre đằng ngà, loại tre rất khó mục trong môi trường ẩm ướt. Vành guồng rộng khoảng 80cm đến 1 mét đặt các phên nứa, xen kẽ có gắn các ống bương bằng tre cắt vát. Nước chảy, đẩy những phên nứa làm guồng quay. Những ống bương khi chìm xuống nước sẽ đong đầy nước và tiếp tục quay đến tầm cao cho phép thì đổ nước vào máng. Chị Triệu Thị Nhung, thôn Bản Nghiệc, xã Hồng Thái cho biết: Làm cọn nước đòi hỏi rất nhiều kỳ công của con người và để dựng được 1 chiếc guồng thì phải dùng sức của 2-3 người đàn ông. Vào dịp đầu năm, chúng tôi vào rừng lấy cây, lấy dây làm vật liệu dựng cọn nước. Làm guồng khó nhất là độ tròn đều của vành, độ đặt vát của ống bương để nước bắt đầu đổ và đổ xong vào máng ở vị trí nhất định. Cọn nước thể hiện sự sáng tạo, tài hoa của đồng bào miền núi trong chinh phục thiên nhiên. Không ầm ầm tiếng máy, không hao tốn nhiên liệu hay điện năng như những chiếc máy bơm, cọn dùng sức nước để vận hành guồng đảm bảo nước tưới tiêu cho sản xuất nông nghiệp. Chính vì vậy, nó được ví như “động cơ vĩnh cửu” cần mẫn làm việc suốt ngày, suốt đêm mà không cần ngơi nghỉ.
Những năm 90 của thế kỷ trước, ở Hồng Thái có khoảng 200 cọn nước được đặt dọc hai bên bờ suối. Tuy nhiên, trải qua thời gian, nhiều chiếc đã bị hư hỏng và không được sửa chữa, số lượng cọn nước giảm dần, đến nay chỉ còn hơn một nửa. Những năm qua, được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, xã Hồng Thái cũng đã được đầu tư xây dựng các công trình kênh mương kiên cố, nhiều gia đình đã mua sắm được máy bơm để bơm nước tưới ruộng. Nhưng với một địa phương mà diện tích đất nông nghiệp phần lớn là ruộng bậc thang như ở Hồng Thái thì những chiếc cọn nước vẫn giữ một vị trí quan trọng, là nông cụ đắc lực đảm bảo tưới tiêu nước cho sản xuất. Kỹ thuật làm cọn nước vẫn được truyền từ đời này qua đời khác. Theo ông Hoàng Văn Thơ, trưởng thôn Bản Nghiệc, xã Hồng Thái thì hiện nay trong thôn còn có 20 chiếc cọn nước, phục vụ nước tưới cho khoảng 36 mẫu ruộng của người dân trong thôn, cùng với các công trình thuỷ lợi được đầu tư xây dựng, những chiếc cọn nước bao năm nay đã đem lại cho bà con những mùa vụ tốt tươi.

Đến xã Hồng Thái của huyện Bình Gia, chiêm ngưỡng những cọn nước khổng lồ, sừng sững bên suối như thách thức với mọi biến thiên của đất trời, con người như được trải rộng lòng mình, hoà vào thiên nhiên. Cùng với những ngôi nhà sàn lợp ngói âm dương, những cọn nước ngày đêm rầm rì bên suối góp phần tô điểm cho bức tranh làng quê yên bình, thơ mộng. Hồng Thái ngày nay đã có nhiều đổi thay, song bên suối vẫn còn đó những cọn nước sừng sững, rì rầm những vòng quay miệt mài như người nông dân cần mẫn, đem no ấm về cho bản làng.

Bảo Vy