Thứ năm,  15/04/2021

Nét đẹp truyền thống trên những làng nghề

LSO-Là một trong những xã rộng, đông dân nhất của Tràng Định và thứ nhì của toàn tỉnh, Đại Đồng có khá nhiều làng nghề truyền thống. Những làng nghề này sản xuất quanh năm, nhưng chỉ thực sự trở nên rộn rã, nhộn nhịp vào dịp xuân về.Nghề làm hương “thổ”Mưa xuân lắc rắc như trải một tấm thảm nhung trên con đường mới mở, đường Bình Lâm-Đội Cấn. Nhớ lại trước kia tuyến Bình Lâm - Đội Cấn là một trong những tuyến đường khó khăn vào bậc nhất trên địa bàn huyện Tràng Định với những con đường mòn ngoằn nghèo ôm lấy triền núi. Nay đường đã rộng mở thênh thang mang đến niềm vui khôn xiết cho nhân dân trong mùa xuân mới. Không chỉ người dân Đội Cấn mà ngay cả Đại Đồng cũng có nhiều thôn nằm trên tuyến đường này, trong đó mừng nhất phải kể đến 2 làng nghề làm hương “thổ”, 2 làng xa nhất, ở tận cuối Đại Đồng. Phơi khô và tẩm bột vào cốt hươngNếu hỏi nghề làm hương có từ bao giờ, thì người già trong làng Nà Phiêng và Pắc Cam cũng chẳng nhớ...

LSO-Là một trong những xã rộng, đông dân nhất của Tràng Định và thứ nhì của toàn tỉnh, Đại Đồng có khá nhiều làng nghề truyền thống. Những làng nghề này sản xuất quanh năm, nhưng chỉ thực sự trở nên rộn rã, nhộn nhịp vào dịp xuân về.
Nghề làm hương “thổ”
Mưa xuân lắc rắc như trải một tấm thảm nhung trên con đường mới mở, đường Bình Lâm-Đội Cấn. Nhớ lại trước kia tuyến Bình Lâm – Đội Cấn là một trong những tuyến đường khó khăn vào bậc nhất trên địa bàn huyện Tràng Định với những con đường mòn ngoằn nghèo ôm lấy triền núi. Nay đường đã rộng mở thênh thang mang đến niềm vui khôn xiết cho nhân dân trong mùa xuân mới. Không chỉ người dân Đội Cấn mà ngay cả Đại Đồng cũng có nhiều thôn nằm trên tuyến đường này, trong đó mừng nhất phải kể đến 2 làng nghề làm hương “thổ”, 2 làng xa nhất, ở tận cuối Đại Đồng.
Phơi khô và tẩm bột vào cốt hương
Nếu hỏi nghề làm hương có từ bao giờ, thì người già trong làng Nà Phiêng và Pắc Cam cũng chẳng nhớ rõ, chỉ biết rằng từ lúc họ sinh ra đã thấy đời cụ, đời kỵ đã làm hương. Hương được làm từ bột cây rừng, hương dịu nhẹ, thơm mùi thảo mộc, người dưới xuôi vẫn quen gọi loại hương này là hương “thổ”. Đến Nà Phiêng trong những ngày cuối năm, lại đúng ngày áp phiên, nên không khí nơi đây càng trở nên tất bật. Bà Mông Thị Loan năm nay đã ngoại lục tuần, bà kể: Theo truyền thống của gia đình, bà biết làm hương từ khi còn chưa biết chữ, chưa biết làm con toán, làm hương cũng lắm công đoạn và đỏi hỏi người làm phải tỷ mẩn. Đầu tiên người làm hương phải đi chặt cây tre, cây mai cưa thành từng khúc, rồi chẻ nhỏ, phơi khô và cuối cùng là hơ qua lửa cho khô hẳn, những que này dùng để làm cốt. Có cốt rồi, người dân lại lên rừng lấy cây sau sau mục, băm nhỏ, phơi khô rồi lại nghiền nhỏ thành bột mịn. Để có chất kết dính (bột keo) lại phải lấy lá cây Ba-ư- hắt, chỉ những nơi núi đá mới có, phơi khô rồi giã mịn trộn với bột gỗ sau sau mục. Trước kia người xưa nghiền bột bằng cối giã bằng sức nước, ngày nay đã có máy nghiền, nhanh chóng và thuận tiện hơn. Như vậy xong phần chuẩn bị nguyên liệu.
Bà Loan thoăn thoắt đưa tay: Công đoạn làm đầu tiên là nhúng cốt vào nước sau đó tẩm bột. Đây là giai đoạn quan trọng, được tiến hành trong 4 bước. Lần thứ nhất tẩm bột, tỷ lệ bột keo nhiều hơn; lần thứ hai tẩm hỗn hợp bột, tỷ lệ bột sau sau mục nhiều hơn và lân thứ ba, thứ tư chỉ tẩm bột sau sau thật mịn. Sau đó đem phơi khô, tẩm phẩm màu vào cán hương và đóng gói sản phẩm đợi đến phiên chợ Thất Khê đưa ra tiêu thụ. Làng Pắc Cắm kề sát ngay Nà Phiêng, không khí cũng rộn ràng, gia đình anh Đàm Văn Khải đã cơ bản đóng gói xong sản phẩm, quệt vội những giọt mồ hôi lăn trên má, anh cười thân thiện: Mỗi bó hương khoảng 10 que, đem bán được 200 đồng, đến phiên chợ mỗi gia đình cũng mang ra khoảng vài nghìn bó, thu nhập cũng được vài trăm ngàn đồng, cả Nà Phiêng và Pắc Cam có trên 100 hộ dân thì hiện nay hầu hết vẫn làm nghề sản xuất hương. Chưa dứt lời, anh Khải lại tất bật cho từng bó hương vào bao tải. Ngày mai, những bó hương này sẽ được mang đi bán tại phiên chợ Thất Khê, mang đến hương thơm mang đậm truyền thống tới từng gia đình trong mỗi ngày lễ, tết, vào những dịp cúng tổ tiên.
Truyền thống ngói âm dương
Ngay đầu đường Bình Lâm- Đội Cấn, làng Phiêng Luông nổi bật với những ngôi nhà lợp ngói âm dương truyền thống. Ngay đầu làng vài chiếc lò nung đang nổi lửa, ánh lửa rừng rực làm gò má của những cô gái Tày hây hây đỏ, tựa như e thẹn với người khách lạ hoặc giả như đang chếnh choáng với hơi men nồng của vùng đất lúa. Cũng như làng hương, nghề làm ngói âm dương đã có ở Phiêng Luông từ hàng trăm năm nay, người ta quen gọi nơi đây là làng “âm dương”. Ông Nguyễn Văn Nghiệp được coi như một “nghệ nhân” làm ngói của làng giới thiệu với chúng tôi về “công nghệ” làm ngói.
Ngói âm dương có 2 cách làm, xưa kia là làm bằng khuôn thùng, gọi là “ngoạ thủng” (ngói thùng); cách ngày nay phổ biến hơn là làm bằng khuôn bàn gọi là “ngoạ bàn” (ngói bàn). Trước tiên nói về cách làm ngoạ bàn, đầu tiên phải chọn nơi có đất sét mịn, không lẫn sỏi, đá. Chọn được đất, người ta đào xuống thành hố đường kính chừng 3-4 mét, sau đó ngâm nước rồi xén thành từng lát mỏng. Trước kia cả làng dùng trâu để nhào đất thật nhuyễn, ngày nay phần nhiều đã dùng máy. Đất nhuyễn, đánh tròn, chất thành đống rồi phủ kín nylon để tránh gió lùa, đảm bảo được độ dẻo. Sau vài ngày, dùng dụng cụ cắt thành từng cục vuông vắn, đưa vào bàn khuôn, lấy thành phẩm đưa phơi thật khô, trung bình thời gian phơi khoảng trên 2 tháng.
Giới thiệu về lò nung và sản phẩm ngói âm dương
Khi ngói thật khô, người ta đưa vào lò nung, đây là công đoạn cực kỳ quan trọng, quyết định sự thành bại của cả một mẻ ngói. Ngói được xếp vào lò thành từng tầng, nung bằng củi. Quá trình nung được chia làm ba giai đoạn. Giai đoạn một là tiểu hoả, điều chỉnh ngọn lửa nhỏ, ủ trong 1 đêm sau đó dần dần tăng lửa chuyển sang giai đoạn trung hoả, ngọn lửa trung bình đến hết đêm thứ 2. Bắt đầu từ ngày thứ 3 trở đi chuyển sang giai đoạn đại hoả, để ngọn lửa cháy mạnh nhất. Đêm thứ 6, bằng kinh nghiệm, người ta nhìn 3 ống khói phụ trên nắp lò, khi có luồng lửa hồng cao khoảng 1 m trào lên, khi đó ngói chín. Sản phẩm tốt không nứt vỡ, cong vênh và có màu mận chín. Một lò như vậy áng chừng cho 2,5-2,6 vạn viên. Với giá bán 700 đồng/viên.
Ngoạ thổng được làm công phu hơn, chọn được đất phải ngâm nước 7 ngày, 7 đêm rồi cho trâu nhẵm nhào đất 7 lần. Khuôn làm ngói là thùng tròn, mỗi khuôn được 4 viên, mọi công đoạn đều phải rất tỉ mỉ, chính xác. Công đoạn nung thì tương tự như ngoạ bàn. Chất lượng của ngọa thổng rất tốt, hầu như mưa không dính được vào ngói, tuy nhiên với cách làm công phu, phức tạp cộng với giá thành cao, nên hiện nay không đặt trước thì không người Phiêng Luông nào làm.
Cho làng nghề mãi xuân
Không chỉ có làm hương, làm ngói, ở Đại Đồng còn có những làng nghề truyền thống như làng rèn Hang Mạ, làng làm nông cụ thủ công…Nhưng theo thời gian cùng với sự phát triển của kinh tế- xã hội, có những làng nghề truyền thống đã dần bị mai một, cũng theo đó một số làng nghề trẻ xuất hiện như làng sản xuất gạch Nà Slảng. Nhưng dù làng nghề truyền thống hay mới hình thành đều có một đặc điểm chung là sản phẩm làm ra với số lượng không lớn, bởi thị trường tiêu thụ không ổn định. Bởi vậy mà gọi là làng nghề, nhưng thu nhập chính của người dân ở những làng này lại không phải từ nghề truyền thống mà là từ nông nghiệp hay những ngành nghề khác. Chủ tịch UBND xã Đại Đồng, Đàm Văn Hản trầm ngâm: Hiện nay, nhân dân các làng nghề vẫn đang cố gắng duy trì những nghề truyền thống của mình, tuy nhiên, nếu không gắn được với phát triển kinh tế thì rất khó để có thể đưa làng nghề phát triển. Người dân Phiêng Luông vẫn nói với chúng tôi, những công trình tôn tạo, trùng tu cần ngói âm dương chất lượng cao thì Phiêng Luông cũng hoàn toàn có khả năng đáp ứng, nhưng người nông dân thì khó có thể liên hệ được với những dự án, công trình đó.
Nhiều ý kiến cho rằng đã đến lúc các cơ quan chức năng cần có sự vào cuộc, nghiên cứu, khảo sát và có kế hoạch quảng bá các làng nghề, đồng thời, hỗ trợ những người làm nghề bằng cách tìm những thị trường tiêu thụ ổn định. Điều đó không phải là quá khó, khi mà nhu cầu về những sản phẩm đó vẫn còn nhiều. Hy vọng rằng, trong xuân mới, những hương “thổ”, những “ngoạ bàn”, “ngoạ thổng”…sẽ vươn tới những thị trường rộng lớn hơn, để người dân làm nghề có thể sống được bằng nghề, quan trọng hơn là phát huy những nghề truyền thống của Tràng Định nói riêng và Xứ Lạng nói chung, cho những làng nghề mãi xuân.

Lê Minh