Thứ năm,  28/10/2021

Người trở về

LSO-Tôi biết Thành từ hồi ở chiến trường miền Đông Nam Bộ, cùng ở E9, Quân đoàn 4. Thành trắng trẻo, đẹp trai, thông minh và ăn nói có duyên. Chúng tôi thân nhau bởi mấy lý do: là đồng hương, tuy không cùng làng, cùng xã, thậm chí chẳng cả cùng huyện nữa. Quê Thành ở huyện Hữu Lũng mảnh đất tận cùng phía nam của tỉnh, còn tôi ở huyện địa đầu phía bắc Xứ Lạng.Điều ngẫu nhiên để chúng tôi gắn bó với nhau nữa là…cái tên. Tôi tên Trung, ghép lại với nhau, đọc là “Trung – Thành”, ai cũng bảo hay và rất có ý nghĩa, nhất là đối với người lính đang hàng ngày giáp mặt chiến đấu với quân thù. Tôi hơn Thành hai tuổi nên Thành vẫn gọi tôi bằng “anh” và xưng là “em” trong giao tiếp. Những niềm vui, nỗi buồn của nhau, những lá thư từ hậu phương lớn gửi vào chúng tôi đều chung nhau đọc và chia sẻ những nỗi niềm…Nói sao hết những gian khổ ở chiến trường thời đó. Có thời kỳ dài đơn vị tôi còn phải tự túc lương thực để mà sống,...

LSO-Tôi biết Thành từ hồi ở chiến trường miền Đông Nam Bộ, cùng ở E9, Quân đoàn 4. Thành trắng trẻo, đẹp trai, thông minh và ăn nói có duyên. Chúng tôi thân nhau bởi mấy lý do: là đồng hương, tuy không cùng làng, cùng xã, thậm chí chẳng cả cùng huyện nữa. Quê Thành ở huyện Hữu Lũng mảnh đất tận cùng phía nam của tỉnh, còn tôi ở huyện địa đầu phía bắc Xứ Lạng.
Điều ngẫu nhiên để chúng tôi gắn bó với nhau nữa là…cái tên. Tôi tên Trung, ghép lại với nhau, đọc là “Trung – Thành”, ai cũng bảo hay và rất có ý nghĩa, nhất là đối với người lính đang hàng ngày giáp mặt chiến đấu với quân thù. Tôi hơn Thành hai tuổi nên Thành vẫn gọi tôi bằng “anh” và xưng là “em” trong giao tiếp. Những niềm vui, nỗi buồn của nhau, những lá thư từ hậu phương lớn gửi vào chúng tôi đều chung nhau đọc và chia sẻ những nỗi niềm…
Nói sao hết những gian khổ ở chiến trường thời đó. Có thời kỳ dài đơn vị tôi còn phải tự túc lương thực để mà sống, cùng nhân dân “một tấc không đi, một ly không rời”, “Bám thắt lưng địch mà diệt”. Trên địa bàn hoạt động của quân Giải Phóng thỉnh thoảng lại xuất hiện những “đồi sắn tự giác”, “đồi sắn công cộng” của bộ đội ta trồng. Có đơn vị mới trồng xong thì phải chuyển quân đi nơi khác. Đến ngày sắn được thu hoạch, đơn vị khác đến cứ việc đào sắn lên mà ăn, vì đó là “đồi sắn tự túc”, “đồi sắn công cộng” đã được quy ước với nhau rồi.
Chiến tranh là phải hy sinh, mất mát, điều đó là lẽ tất nhiên. Tôi đã được chứng kiến bao nhiêu trường hợp đồng đội, đồng chí mình phải hi sinh vì bom đạn của quân thù, nói là đã “quen” thì thật là nhẫn tâm, vô cảm, thôi biết để mà nuôi chí căm thù bắt kẻ nợ máu phải trả nợ máu. Thế mà đến trường hợp của Thành sao tôi thấy xót xa đến tột độ, tưởng như không chịu đựng nổi. Trong một trận đánh phối hợp các binh chủng ngày 7/1/1975 để giải phóng Phước Long, sắp đến giờ chiến thắng thì Thành bị trúng đạn từ một ổ đề kháng cuối cùng của địch bắn ra. Máu chảy lênh láng, Thành cố gượng dậy ôm súng tiếp tục xông lên. Nhưng không được. Vết thương nặng quá, Thành lảo đảo mấy vòng rồi quỵ hẳn xuống, máu chảy ướt đầm chiếc áo sạm màu thuốc súng. Đôi mắt nhắm nghiền…Bỗng tôi nghe tiếng gọi thảng thốt: “Anh Trung ơi!….” Tôi nhìn Thành. Nước mắt trào ra.
Chúng tôi băng bó cho Thành xong và nhanh tróng chuyển Thành về tuyến sau. Thị xã Phước Long được giải phóng ngày 7/1/1975 và cũng từ ngày ấy tôi phải xa Thành và không biết tin tức gì về Thành nữa.
Miền Nam đã hoàn toàn giải phóng. Đất nước thống nhất. Tôi được quân đội cho đi học một lớp sỹ quan dài hạn. Tốt nghiệp, rồi lại “lang thang” nghề lính, lại vào Nam, ra Bắc rồi chiến tranh biên giới…Nên chẳng có thời gian đâu mà tìm kiếm, thăm thú bạn bè xem ai còn, ai mất.
Năm 2005 tình cờ trên ti vi có tường thuật một hội nghị tuyên dương những Cựu chiến binh làm kinh tế giỏi. Tôi sững sờ khi thấy người đang đọc báo cáo điển hình trên màn ảnh kia, giống Thành quá, chỉ già và hơi gầy một chút thôi. Rồi tôi khẳng định và reo lên:
– Đúng rồi! Thành Hữu Lũng rồi! Thành đồng đội của tôi ngày ấy kia rồi! Thành còn sống…!
Sau cái buổi xem truyền hình ấy tôi có ngay kế hoạch đi tìm Thành. Trên 30 năm đã trôi qua tôi không còn nhớ chính xác thôn xã của Thành nữa, chỉ mang máng hồi ở chiến trường Thành bảo quê thành ở xã “hờ”…, “hờ”…gì đó, một xã có chữ đầu vần “H”. Ở “khu đường sắt” huyện…,nên đành phải tìm đến hội Cựu chiến binh huyện Hữu Lũng hỏi. ông chủ tịch Cựu chiến binh huyện tiếp chúng tôi thân mật như tiếp một người thân lâu ngày gặp lại. Trong câu truyện ông còn nói một cách hình ảnh: “…Nông Hoàng Thành là con chim đầu đàn của Hội Cựu chiên binh huyện tôi đấy…”. Rồi ông kể rất nhiều về sự phấn đấu vươn lên làm giàu của vợ chồng Thành, xong cho một cán bộ của hội đưa chúng tôi đi.
Về Hữu Lũng dịp này, bị ngập trong mùa hoa vải thiều. Một màu trắng đục như sữa trải dài từ thung lũng đến đồi cao, chạy mênh mang lên rừng, lên bãi…bên cạnh những rừng keo, bạch đàn xanh mướt thẳng tắp nhấp nhô, tầng tầng, lớp lớp…đầy sức sống. Chỉ vài tháng nữa biển màu trắng sữa kia sẽ tan biến trong nắng sớm để thắp lên hừng hực màu đỏ của những trái vải thiều chín mọng. Màu đỏ tràn đầy sự ấm no và niềm vui, khách thập phương sẽ về ăn hàng như trẩy hội. Tôi lại nghĩ trong rừng rực mênh mang của màu đỏ trùng điệp vải thiều kia có cả những chấm son của các gia đình CCB mà ông chủ tịch CCB huyện Hữu lũng đã kể.
Đường về “cụm đường sắt” quanh co, khúc khuỷu, có đoạn dốc liền dốc, “ổ gà” “ổ voi” liên tiếp. Chiếc xe U- oát như bà già khó tính cứ khục khặc như cố tình không chịu tiến. Xe chạy len lỏi, ngoằn ngoèo qua những rừng cây, đồi vải bạt ngàn. Thỉnh thoảng đây đó hai bên đường, giữa những vườn vải, đồi cây sừng sững những ngôi nhà hai, ba tầng, có cả những ngôi nhà mới xây xong như còn thơm mùi vôi vữa. Chắc chủ của nó cũng mới phất lên nhờ những đồi cây, vườn vải kia đây.
Tôi hỏi anh cán bộ Hội Cựu chiến binh của huyện cùng đi:
– Nhà anh có trồng được nhiều vải không?
– Cũng được khoảng năm trăm cây, còn lại chủ yếu là cây lấy gỗ, nhiều nhất là bạch đàn, được vài hecta bác ạ!
– Thế là khá lắm, triệu phú rồi đấy.
Tôi lại hỏi:
– Thế nhà anh Thành bằng hay hơn nhà anh?
– Dạ, tý nữa đến nhà chú ấy các bác sẽ rõ.
Anh này cũng hóm đấy, muốn gây ấn tượng bất ngờ…(tôi nghĩ).
Mải chuyện xe đã đến cổng nhà Thành lúc nào. Anh lái xe cười vui vẻ, nói với khách: “hết tiền”! chúng tôi xuống xe, đi vòng theo đầu nhà xông vào sân sau. Từ dưới bếp, người đàn bà tuổi trung niên đang lúi húi lo bữa trưa. Thấy khách chị bước ra chào, vẻ đôn hậu trầm tĩnh. Biết chúng tôi là bạn thân của Thành tư xa đến, chị sai con đi tìm bố về. Cậu bé trạc 13 – 14 tuổi xinh trai giống bố hồi còn trẻ như đúc, nhanh nhẹn chạy đi. Vừa lo bếp núc, chị vừa pha chè rót nước ra chén từ cái bình tích hình ống to đùng, xong niềm nở nhỏ nhẹ mời chúng tôi, rồi chị lại quay về với bếp lửa…Khổ người chị thâm thấp đầy đặn, chiếc áo cánh màu xanh bạc phếch cùng với mớ tóc búi cao, trông chị có thể biết được cái vẻ lam lũ của người đàn bà đảm đang hiền thục.
Chưa kịp nói chuyện với chị thì Thành về, chúng tôi vội vã bước ra sân đón mừng. Giữa trưa nắng đậm, mặt Thành đỏ gay, mắt hấp háy, miệng để nở nụ cười hiền. Tôi muốn thử trí nhớ của Thành xem sau mấy chục năm gặp lại, từ xa đã hỏi thật to:
– Còn nhớ ai không?.
– Anh Trung! Anh Hoàng Đức Trung chứ còn ai! -Thành reo lên
Như một cơn gió, Thành ào tới bắt tay chúng tôi bằng bàn tay chỉ còn hai ngón, rồi ôm chặt lấy tôi. Mắt tôi trào lệ, nghẹn ngào. Trong giây phút chúng tôi không ai nói với ai được một lời .Rồi cứ đứng ngoài sân hàn huyên chẳng hề hay nắng gắt. Người đàn bà đảm đang thường chu đáo, chị nhắc chồng mời khách vào nhà. Vừa yên vị thì chị đặt lên bàn trước mặt chúng tôi một chai rượu mật ong và đĩa lạc rang còn nóng, chị mời chúng tôi và bảo đây toàn là “ cây nhà lá vườn”.
Chuyện như không bao giờ dứt. Bỗng giọng Thành trầm xuống:
– Sau cái đêm hôm ấy em được đưa về trạm quân y tiền phương, ít ngày sau lại chuyển ra Bắc, qua mấy trạm nữa, cuối cùng em ở hẳn trại Thuận Thành-Bắc Ninh. Ở đây em gặp Thủy, quê ở Vĩnh Phúc là nhân viên của trại được giao nhiệm vụ chăm sóc em. Thủy thương em lắm. Em cũng thấy mến Thủy, tưởng như cuộc đời em không thể sống thiếu Thủy được.Lãnh đạo trại và tập thể vun vén cho chúng em thành vợ thành chồng. Đám cưới tổ chức được một thời gian ngắn thì Thủy xin về để lo kinh tế gia đình và chăm sóc bố mẹ già cho em , đó là vào năm 1980, còn em thì ở lại trại và được hưởng chế độ nhà nước nuôi dưỡng suốt đời, thỉnh thoảng Thủy lại đến thăm em.
Lắm lúc nghĩ cũng nản, bi quan lắm, thân tàn ma dại, sống nhờ vả suốt đời trong trại ư? Khi được lắp chân giả, tập đi được, em phấn khởi lắm, lại thấy yêu đời trở lại, dù sao thì mình cũng còn may mắn hơn các bạn là còn sống trở về. Còn đôi chân, dù một chân giả, còn cánh tay, tuy không nguyên vẹn…Nhưng bộ óc và trái tim khỏe mạnh thì vẫn còn nguyên. Năm 1982, vợ em đến đón em về, em xin về và nuôi quyết tâm sẽ làm một điều gì đó có ích cho vợ con, cho cuộc đời, quyết không chịu “Phế”. Năm 1983 em xin mảnh đất hoang này. Tiết kiệm được ít tiền và được họ hàng bà con làng xóm giúp đỡ cho vay mỗi người một ít không lấy lãi, cộng lại cũng được hơn chục triệu đồng. Vợ chồng dựng túp lều khai phá, rãy cỏ làm nương, trồng ngô, trồng sắn, trồng khoai lang, băm khoai nấu cám chăn gà…rau cháo qua ngày.
Thế rồi đất chẳng phụ người, đến khi trồng được vải thiều thì hết đói. Anh biết không, hồi ấy vải thiều đâu có rẻ rúng như bây giờ, mười nghìn một ký tại gốc mà không có mà bán, sướng không. Mùa vải những năm “chín mươi” “chín mốt” em đều có 4 -5 tấn quả. Anh thử nhẩm tính xem, riêng tiền vải thiều thôi em cũng thu được bao nhiêu rồi, đỉnh cao nhất là mùa vải năm 1992 em thu được 70 triệu đồng. Em coi cái năm “chín mươi” của thế kỷ trước là cái mốc đánh dấu sự thoát nghèo của em đấy.
Ngày nay em sắm được ti vi màu đắt tiền, mua được xe máy “xịn”, làm được nhà kiên cố, các cháu được học hành đến nơi đến chốn là nhờ vào vải cả đấy. À quyên, chưa nói với anh về các con của em nhỉ. Em được 3 cháu, 2 trai, 1gái. Cháu đầu 26 tuổi tốt nghiệp đại học nông nghiệp, loại giỏi nên được giữ lại giảng dạy ở trường. Cháu đã có vợ, có con, vợ cháu là giáo viên trường trung học cơ sở ở xã này. Năm ngoái nó cũng vừa làm cái nhà trị giá cũng đến gần trăm triệu, vợ chồng em phải hỗ trợ chúng nó gần một nửa. Cháu thứ hai là con gái vừa tốt nghiệp Đại học Y Thái Nguyên đang làm thủ tục để vào làm việc ở trung tâm y tế tỉnh. Còn cháu thứ ba anh biết đấy, đang học trung học phổ thông, cháu học giỏi lắm, làm lớp trưởng liên tục từ lớp một, năm nay lớp mười rồi! Có đêm nằm vắt tay lên trán nghĩ, cuộc đời thật như một giấc mơ. Một căn nhà khang trang đầy đủ tiện nghi, xung quanh vài trăm cây vải thiều, nhiều cây ăn quả khác, mùa nào thức ấy. Trong chuồng, lợn to, lợn nhỏ, ngoài sân, ngoài vườn gà vịt ngan ngỗng hàng trăm con, suốt ngày lao xao rối rít…Con cái phương trưởng, đời sống kinh tế đi lên, năm sau cao hơn năm trước…, thử hỏi, một lão nông bình thường, làm được như thế này ở nơi rừng sâu, đất cằn sỏi đá là một chuyện lạ hiếm có.
Qua chuyện nhà, chuyện đời Thành không kể gì về thành tích của mình trong quá khứ dù chỉ dưới hình thức nhắc lại những kỷ niệm chung của đơn vị. Vậy nên tôi phải nói thêm để độc giả biết: Hồi ở chiến trường trong những trận chiến đấu Thành rất dũng cảm. Đã từng được đi dự hội nghị chiến sĩ thi đua toàn Miền. Hiện Thành có 6 giấy chứng nhận chiến sỹ (4 dũng sỹ diệt Mỹ, 2 dũng sỹ diệt xe cơ giới), 1 huân chương chiến công giải phóng hạng 3. Còn hiện tại thì như ông chủ tịch CCB huyện Hữu Lũng cho biết từ khi về địa phương ngoài việc làm kinh tế giỏi, Thành còn tích cực tham gia nhiều công tác xã hội khác, hiện đang làm chủ tịch hội Cựu chiến binh xã. Ở chức vụ này Thành luôn chăm lo đến đời sống vật chất, tinh thần cho hội viên. Làm dự án cho hội viên vay vốn để xóa đói giảm nghèo, nhiều hộ đang vươn lên làm giàu. Gia đình Thành là tấm gương tiêu biểu đã từng được đi dự hội nghị toàn huyện, toàn tỉnh…để báo cáo về thành tích làm kinh tế giỏi và xây đựng gia đình văn hóa.
Tôi nghỉ lại với Thành một đêm, chúng tôi cùng thức như chưa bao giờ được thức.

Trương Thọ