Chủ nhật,  17/10/2021

Bản sắc văn hoá dân tộc Dao ở Mẫu Sơn trường tồn cùng năm tháng

LSO-Mẫu Sơn là một xã vùng III biên giới của huyện Lộc Bình. Toàn xã có 251 hộ với 1.148 nhân khẩu, gồm 3 dân tộc cùng sinh sống: Dao, Tày, Nùng, trong đó dân tộc Dao chiếm tỷ lệ 98% dân số. Từ xưa đến nay, người Dao ở xã Mẫu Sơn luôn giữ được bản sắc văn hoá dân tộc riêng rất độc đáo của mình, đó là một nền văn hoá Dao thuần tuý, không pha trộn từ cách ăn, nếp ở, trang phục, phong tục thờ cúng, lễ hội... Cách ăn: Người Dao ăn hai bữa chính trong ngày vào buổi sáng trước khi đi làm và buổi tối. Bữa phụ buổi trưa thường được ăn ở trên nương. Lương thực chính của đồng bào Dao là gạo tẻ và nếp. Gắn với từng loại lương thực là những cách thức và dụng cụ chế biến. Người Dao dùng cối xay, cối giã đạp chân để chế biến hạt thóc thành hạt gạo. Dùng cối đá để xay xát ngô. Gạo nấu thành cơm hay nấu cháo tuỳ theo sở thích của từng người, từng gia đình. Ngô được xay vỡ thành hạt nhỏ rồi đem...

LSO-Mẫu Sơn là một xã vùng III biên giới của huyện Lộc Bình. Toàn xã có 251 hộ với 1.148 nhân khẩu, gồm 3 dân tộc cùng sinh sống: Dao, Tày, Nùng, trong đó dân tộc Dao chiếm tỷ lệ 98% dân số. Từ xưa đến nay, người Dao ở xã Mẫu Sơn luôn giữ được bản sắc văn hoá dân tộc riêng rất độc đáo của mình, đó là một nền văn hoá Dao thuần tuý, không pha trộn từ cách ăn, nếp ở, trang phục, phong tục thờ cúng, lễ hội…
Cách ăn: Người Dao ăn hai bữa chính trong ngày vào buổi sáng trước khi đi làm và buổi tối. Bữa phụ buổi trưa thường được ăn ở trên nương. Lương thực chính của đồng bào Dao là gạo tẻ và nếp. Gắn với từng loại lương thực là những cách thức và dụng cụ chế biến. Người Dao dùng cối xay, cối giã đạp chân để chế biến hạt thóc thành hạt gạo. Dùng cối đá để xay xát ngô. Gạo nấu thành cơm hay nấu cháo tuỳ theo sở thích của từng người, từng gia đình. Ngô được xay vỡ thành hạt nhỏ rồi đem nấu chín thành cơm, cháo hoặc làm bánh. Cách chế biến thức ăn hàng ngày của người Dao chủ yếu là xào, luộc, nướng, rán. Ngoài cách chế biến thịt thông thường như các dân tộc khác, còn có cách chế biến độc đáo như thịt treo ướp muối (thịt lạp), một món ăn truyền thống, phổ biến, mang tính chất nghi lễ không thể thiếu của đồng bào Dao. Trong các bữa tiệc mừng năm mới, thịt thường được ăn kèm với lá sau sau non, gọi là phù mụa điẳng. Vị chát của lá sau sau đem lại cho người ăn cảm giác rất ngon miệng trong các bữa tiệc, làm cho người ăn không thấy ngấy khi dùng thịt mỡ. Ngoài ra, lá sau sau còn là vị thuốc trợ giúp tiêu hoá rất tốt, nên việc đồng bào Dao ăn kèm loại lá này với thịt treo là cả một nghệ thuật và khoa học. Người Dao thường uống rượu vào các bữa ăn và các dịp lễ tết. Người Dao có truyền thống tự biết làm men rượu từ lá cây rừng. Rượu được nấu và ủ với men lá và chưng cất từ các loại cây lương thực chủ yếu như: Lúa, ngô, hạt kê tiếng (Dao gọi là si shán). Người Dao có tục làm xôi màu: Xanh, đỏ, tím, vàng, trắng… Người ta tạo ra màu xôi từ các loại lá cây để nhuộm gạo nếp trước khi đồ bằng chõ sành. Khi đồ, lần lượt cho gạo màu đỏ xuống dưới, sau đó đến các màu xanh, vàng, tím và màu trắng để trên cùng. Khi xôi chín, dỡ ra, có thể trộn lẫn các màu với nhau hay để riêng từng màu thành loại xôi nhiều màu với hương vị khác nhau và rất đẹp mắt.
Hội xuân trên xã Công Sơn (Cao Lộc) Ảnh: Hòa Lộc
Cách mặc: Bộ trang phục của phụ nữ Dao rất đặc sắc, sặc sỡ. Vào dịp tết Nguyên đán hàng năm, các thiếu nữ Dao ngồi vắt vẻo giữa lưng chừng đồi thi đua nhau thêu áo mới. Họ thêu cặm cụi hàng tháng trời mới hoàn chỉnh một bộ quần áo. Quần áo Dao được thêu bằng sợi chỉ màu, những hoạ tiết chủ yếu như hình con chim, cây thông được thêu một cách dứt khoát và khéo léo. Trang phục của người Dao thường được dệt bằng chất liệu sợi gai, sợi bông được pha trộn màu sắc hợp lý và dệt bằng thủ công. Phụ nữ Dao mặc áo dài bốn thân bổ tà trước ngực. Bên trong áo có yếm thêu hoa văn, gắn các ngôi sao bằng bạc và trang trí bằng hạt cườm kèm với thắt lưng màu trắng thêu hoa văn đen hình cành cây. Bên hông đeo dây xà tích bằng bạc. Đầu đội mũ hình mái nhà, quấn quanh mũ bằng dây hạt cườm đủ màu sắc. Tai đeo khuyên to bằng bạc. Trang phục đàn ông người Dao đơn giản hơn nhiều. Áo thường là màu đen, có đính các tua chỉ ngũ sắc để trang trí. Quần ống rộng buộc néo bằng sợi dây gai có đồng xu để giữ. Đầu đội khăn xếp hoặc đơn giản hơn thì buộc một chiếc khăn mặt to trông rất khoẻ khoắn..
Tục thờ cúng: Người Dao thờ cúng tổ tiên gọi là síp chà phin. Thờ tổ tiên là một phong tục rất quan trọng của các gia đình người Dao. Điều đặc biệt ở đây là tục thờ cúng tổ tiên của dòng họ và gia tộc đã được hội nhập với thờ cúng vị thuỷ tổ huyền thoại là Bàn thờ. Người Dao thờ cúng tổ tiên ngược lên chín đời. Tuy nhiên, trực tiếp là ba đời: Cha mẹ, ông bà, cụ. Từ thờ cúng tổ tiên trong gia đình, người Dao thờ cúng tổ tiên dòng họ. Bàn thờ tổ tiên dòng họ được luân chuyển theo thứ bậc từ cao xuống thấp. Bàn thờ tổ tiên gọi là hùng lầu đặt ở gian giữa ngôi nhà. Đó là nơi tôn nghiêm, phụ nữ và con dâu ít khi được đến gần. Khi có lễ tết, cúng giỗ, chủ nhà khấn mời tổ tiên từ Dương Châu trở về chứng giám lễ của con cháu. Việc thờ cúng tổ tiên còn thể hiện qua nhiều nghi lễ như tang ma, tảo mộ, cúng rằm tháng bẩy, cúng tết nguyên đán, cúng dâng cơm mới… Thờ cúng Bàn thờ gọi là chẩu đàng là một phong tục tiêu biểu của người Dao ở xã Mẫu Sơn, huyện Lộc Bình. Nó gắn liền với vận mệnh của từng cá nhân, gia tộc, dòng họ và cả dân tộc Dao. Cúng chẩu đàng là lễ cấp sắc, một nghi lễ mang tính chất lễ thành đinh nguyên thuỷ. Đầu tiên là cấp sắc với sự hiện diện của thuỷ tổ Bàn thờ và sau đó là lễ trả ơn Bàn thờ gọi là kiáo nhủn. Người Dao vốn là dân cư làm nương rẫy và làm ruộng nên các lễ cúng rất phong phú, như lễ cúng vào ngày tra lúa nương đầu tiên chẳng hạn. Đây là nghi lễ quan trọng, chỉ sau người ta tiến hành nghi lễ cúng gia tiên, Thần nông để cầu mong Thần nông phù hộ cho mùa màng tươi tốt. Lễ cơm mới tổ chức sau vụ thu hoạch để tạ ơn tổ tiên, để Thần nông phù hộ cho mùa màng bội thu. Sau khi gặt xong, người Dao cúng hồn lúa, có nghi thức thu hồn lúa vào bông lúa ngắt đầu tiên, sau đó bông lúa ấy được đặt vào giữa kho đựng thóc lúa.
Tang ma (chẩu chi ): Đồng bào Dao quan niệm người chết là hồn lìa khỏi xác để về với tổ tiên nên mọi nghi lễ phải thể hiện sự tiếc thương. Khi có người qua đời, gia đình phải đi xem ngày để mang đi chôn cất. Sau đó chọn ngày lành tháng tốt mới tổ chức làm lễ tang. Nếu chưa chọn được ngày tốt thì phải chờ một đến hai tháng, chọn được ngày tốt mới tổ chức lễ tang.
Cưới xin (chón nham, ỏi cùng ngoá): Xưa kia trai gái người Dao thường được dựng vợ gả chồng trước tuổi hai mươi. Nay việc kết hôn đã được thực hiện đúng độ tuổi mà Luật hôn nhân qui định như các dân tộc khác. Cưới xin của người Dao rất đa dạng, có nhiều hình thức tổ chức khác nhau. Các nghi lễ chính của một đám cưới thường gồm: Lễ dạm hỏi (nải nham), lễ trao lộc mệnh (tờ giấy ghi ngày, tháng, năm sinh của đôi trai gái để so tuổi xem có hợp nhau không), lễ thoả thuận cam kết và lễ cưới. Khi nhắc đến tục cưới gả, không thể không nói đến hát giao duyên và tiếng kèn đón dâu rất hay. Người nghe như thấy được sự hồi hộp có pha chút lo lắng của cô dâu mới. Ngày cưới là ngày rất vui của tất cả mọi người vì họ được mặc trang phục truyền thống của dân tộc mình. Ngày cưới còn là ngày tụ họp của các chàng trai, cô gái tạo nên một khung cảnh rất đặc sắc và náo nhiệt. Trước đây, đám cưới với nhiều nghi thức có thể kéo dài ba ngày, ba đêm. Ngày nay, nhân dân được tuyên truyền hiểu về các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước nên đám cưới được tổ chức trong một ngày, không còn kéo dài như trước.
Lễ hội: Gồm các lễ cầu mùa và cầu sức khoẻ. Ngoài các lễ cúng theo lịch tiết như: Thanh minh, mồng 3 tháng 3, mồng 5 tháng 5, 14 tháng bẩy, tết Nguyên đán, tết sang xuân…, người Dao còn tiến hành các lễ cúng miếu để cầu mùa và cầu sức khoẻ cho cộng đồng, làng bản.
Nền văn hoá dân tộc Dao ở xã Mẫu Sơn, huyện Lộc Bình được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác trong đó có chữ viết. Chữ viết của người Dao là chữ nho, được các cụ già dùng để xem ngày trong các dịp: Đón dâu, làm nhà mới, cấp sắc, lễ cầu mùa… Đảng, Chính phủ đem ánh sáng văn minh đến cho mọi người, trong đó có người Dao và cùng với thời gian, nhiều phong tục lạc hậu đã được bãi bỏ nhưng cơ bản, người Dao vẫn giữ được bản sắc văn hoá độc đáo rất riêng của dân tộc mình, không lẫn với các dân tộc khác, nét độc đáo ấy nhất định sẽ trường tồn mãi với thời gian.

(Theo lời kể của bà Triệu Thị Phương,Phó Chủ tịch UBND xã Mẫu Sơn, huyện Lộc Bình)

Hoàng Kim Dung