Thứ bảy,  18/09/2021

Chuyện ghi ở thôn nghèo

LSO-Không điện, không đường, không công trình thuỷ lợi và nhiều cái không khác. Cuộc sống của người dân thôn Pò Khoang, xã Đình Lập, huyện Đình Lập như đang “đứng yên” giữa xã hội đang phát triển mạnh mẽ từng ngày, từng giờ.Chỉ cách trung tâm thị trấn 20km, cách đường quốc lộ 15 km nhưng thôn Pò Khoang như một ốc đảo giữa rừng. 22 hộ dân trong thôn đều là hộ nghèo, cuộc sống tự cung tự cấp, không có nhiều thứ trao đổi, mua bán làm người dân ở đây như cách biệt hẳn với xã hội bên ngoài. Học sinh trường THCS thị trấn Đồng Đăng quyên góp gạo ủng hộ học sinh vùng cao Ảnh: Hòa LộcCon đường đến thôn Pò Khoang vốn nhỏ hẹp, ghập ghềnh, khúc khuỷu, lại qua dốc dựng đứng, qua suối trơn trượt. Khó khăn lắm mới có thể ngồi vững trên xe máy, chỉ cần một chút bất cẩn là có thể rơi khỏi xe bất cứ lúc nào. Anh Vi Đình Thương - Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã Đình Lập, một người thường xuyên đến thôn cho biết: “Con đường này trời nắng còn...

LSO-Không điện, không đường, không công trình thuỷ lợi và nhiều cái không khác. Cuộc sống của người dân thôn Pò Khoang, xã Đình Lập, huyện Đình Lập như đang “đứng yên” giữa xã hội đang phát triển mạnh mẽ từng ngày, từng giờ.
Chỉ cách trung tâm thị trấn 20km, cách đường quốc lộ 15 km nhưng thôn Pò Khoang như một ốc đảo giữa rừng. 22 hộ dân trong thôn đều là hộ nghèo, cuộc sống tự cung tự cấp, không có nhiều thứ trao đổi, mua bán làm người dân ở đây như cách biệt hẳn với xã hội bên ngoài.

Học sinh trường THCS thị trấn Đồng Đăng quyên góp gạo ủng hộ học sinh vùng cao
Ảnh: Hòa Lộc
Con đường đến thôn Pò Khoang vốn nhỏ hẹp, ghập ghềnh, khúc khuỷu, lại qua dốc dựng đứng, qua suối trơn trượt. Khó khăn lắm mới có thể ngồi vững trên xe máy, chỉ cần một chút bất cẩn là có thể rơi khỏi xe bất cứ lúc nào. Anh Vi Đình Thương – Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã Đình Lập, một người thường xuyên đến thôn cho biết: “Con đường này trời nắng còn có thể đi được. Trời mưa, đường trơn như đổ mỡ, những lần đi công tác vào thôn anh phải xem trước dự báo thời tiết, nắng ráo mới dám đi. Những hôm có việc quan trọng phải đi ngay chẳng may gặp trời mưa, phải ngủ lại là chuyện thường…”. Đi cùng, tôi càng hiểu và thấm thía những khó khăn của cán bộ các xã vùng sâu, vùng xa. Đường đi khó khăn nên người dân ở đây cũng ít đi chợ, một tuần, có khi cả tháng mới ra chợ một lần để mua những thứ thực phẩm cần thiết có thể để lâu ngày như muối, mỡ, củ cải khô, cá khô…thậm chí có người cả năm chẳng đi chợ bao giờ. Còn lũ trẻ thì hoạ hoằn lắm mới được theo mẹ ra chợ, vì vậy, thấy người lạ đến thôn chúng rụt dè ngó nghiêng rồi bình phẩm bằng tiếng thổ ngữ. Khi trò chuyện tôi hiểu thêm, trẻ em ở thôn nói tiếng phổ thông rất kém. Con đường đến trường đối với lũ trẻ nơi đây cũng xa hơn rất nhiều. Hiện trong thôn chỉ có cấp 1, từ cấp 2 thì phải ra thị trấn, chính vì thế đa số trẻ em chỉ học hết lớp 5 là bỏ, ở nhà theo bố mẹ ra đồng làm ruộng. Số học sinh học hết lớp 12 chỉ đếm trên đầu ngón tay, cả thôn mới chỉ có một em đang theo học tại trường trung cấp.
Điện thắp sáng đối với người dân nơi đây là thứ vô cùng xa xỉ. Để có điện các gia đình phải tận dụng dòng suối để chạy máy phát. Tuy vậy, máy phát điện chỉ phát huy tác dụng khi nguồn nước đủ mạnh, nên nguồn điện cũng chỉ đáp ứng được trong thời gian rất ngắn. Để có ánh sáng đa số người dân phải dùng dầu hoả hoặc lấy từ ắc qui xe máy, nhà nào khá hơn thì mua một chiếc ắc qui cũ để dùng, nhưng cũng phải thật tiết kiệm, ánh sáng chỉ được dùng vào lúc ăn cơm, nhiều nhà phải ăn cơm từ khi trời còn sáng để tiết kiệm điện. Vậy nên ở đây gà lên chuồng cũng là lúc người dân chẩn bị đi ngủ. Không có điện lũ trẻ không có ánh sáng để học bài, người già rất ngại ra ngoài khi trời tối. Phương tiện duy nhất liên hệ giữa người dân nơi đây với thế giới bên ngoài có lẽ là chiếc đài FM Trung Quốc, nhưng trong thôn cũng chỉ có vài cái, mọi phương tiện hiện đại của xã hội đều lạ lẫm với người dân nơi đây.
Là một thôn chủ yếu sống dựa vào nông nghiệp nhưng Pò Khoang lại không có nổi một công trình thuỷ lợi để giữ nước và đưa nước đến đồng ruộng. Toàn thôn có trên 15 mẫu ruộng, nước sản xuất chủ yếu nhờ trời, trong khi hạn hán lại thường xuyên kéo dài nên chỉ sản xuất được một vụ lúa, mùa khô trồng thêm ngô, ngoài ra không có cây trồng nào khác. Anh Vi Đình Thương cho biết thêm: Sản xuất còn mang tính tự cung, tự cấp, không có sự trao đổi hàng hoá nên không có nguồn thu nhập nào đáng kể. Những lúc nông nhàn người dân không có công việc gì để tăng thêm thu nhập, đa số thanh niên trong thôn đều không có việc làm. Sống giữa rừng núi bạt ngàn nhưng người dân lại chưa biết mở rộng diện tích đất sản xuất, tập trung vào phát triển nghề rừng nên đa số vẫn để đất trống đồi núi trọc. Phương thức canh tác còn lạc hậu, chưa biết áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất. Chăn nuôi còn nhỏ lẻ, con lợn, con gà nuôi cả năm mới được xuất chuồng nhưng do đường đi khó nên không ai đến thu mua, vì vậy, các hộ trong thôn tự thịt, bán lại cho nhau. Chính vì vậy 100% số hộ trong thôn vẫn là hộ nghèo. Lao động vất vả nhưng năng suất chất lượng kém, mức sống thấp nên con người ở đây lộ rõ vẻ khắc khổ. Tuy mới ở tuổi 50 nhưng khuôn mặt của bà Mã Thị Út đã hằn đặc những nếp nhăn, vài chiếc răng đã rụng, thân hình như quắt lại, nếu không hỏi tuổi chắc chắn ai cũng nghĩ bà đã ngoài 70. Bà tâm sự: “Làm vất vả, sống kham khổ nên con người già nhanh lắm”.

Những đám mây đã che đi chút ánh sáng cuối chiều. Trong rừng, lũ chim đã cất tiếng gọi nhau về tổ, trên mỗi nóc bếp những làn khói mỏng đang nhẹ nhàng bay lên báo hiệu một ngày sắp kết thúc ở Pò Khoang. Rời thôn khi chiều muộn, trong tôi còn vang mãi câu nói của bà Út: Không biết hết đời này bà có được nhìn thấy điện sáng ở thôn Pò Khoang này không. Ra thị trấn thấy người ta được xem ti vi bà ao ước lắm.

Hoàng Vương