Thứ năm,  23/09/2021

Vùng ven biển ứng phó biến đổi khí hậu

Chịu tác động nhiều nhấtBiến đổi khí hậu (BĐKH) đang tác động sâu rộng đến các quốc gia trên thế giới. Theo đánh giá của các nhà khoa học, Việt Nam là một trong năm nước chịu tác động nặng nề nhất của BĐKH. Việt Nam có bờ biển dài 3.260 km, hơn một triệu km2 lãnh hải và hơn ba nghìn hòn đảo gần bờ và hai quần đảo xa bờ, nhiều vùng đất thấp ven biển, trong đó có hơn 80% diện tích đồng bằng sông Cửu Long và hơn 30% diện tích đồng bằng sông Hồng - Thái Bình có độ cao dưới 2,5 m so với mặt biển. Theo ước tính, trung bình trên toàn dải bờ biển Việt Nam, mực nước biển có thể tăng lên 40 cm vào năm 2050 và ước tính có thể tăng lên 100 cm vào năm 2100. BĐKH và nước biển dâng làm trầm trọng thêm tình trạng xâm nhập mặn, làm tăng diện tích ngập lụt, gây khó khăn cho thoát nước, tăng xói lở bờ biển và nhiễm mặn nguồn nước ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp và nước sinh hoạt, gây tác động lớn đến...

Chịu tác động nhiều nhất

Biến đổi khí hậu (BĐKH) đang tác động sâu rộng đến các quốc gia trên thế giới. Theo đánh giá của các nhà khoa học, Việt Nam là một trong năm nước chịu tác động nặng nề nhất của BĐKH.
Việt Nam có bờ biển dài 3.260 km, hơn một triệu km2 lãnh hải và hơn ba nghìn hòn đảo gần bờ và hai quần đảo xa bờ, nhiều vùng đất thấp ven biển, trong đó có hơn 80% diện tích đồng bằng sông Cửu Long và hơn 30% diện tích đồng bằng sông Hồng – Thái Bình có độ cao dưới 2,5 m so với mặt biển. Theo ước tính, trung bình trên toàn dải bờ biển Việt Nam, mực nước biển có thể tăng lên 40 cm vào năm 2050 và ước tính có thể tăng lên 100 cm vào năm 2100.

BĐKH và nước biển dâng làm trầm trọng thêm tình trạng xâm nhập mặn, làm tăng diện tích ngập lụt, gây khó khăn cho thoát nước, tăng xói lở bờ biển và nhiễm mặn nguồn nước ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp và nước sinh hoạt, gây tác động lớn đến các công trình xây dựng như đê biển, đường giao thông, bến cảng, các nhà máy, các đô thị và khu vực dân cư ven biển. Sự gia tăng của các hiện tượng thời tiết cực đoan và thiên tai, cả về tần số và cường độ do BĐKH là mối đe dọa thường xuyên, trước mắt và lâu dài đối với tất cả các lĩnh vực, các vùng. Những năm gần đây, số cơn bão có cường độ mạnh đổ bộ vào nước ta nhiều hơn, quỹ đạo bão dịch chuyển dần về các vĩ độ phía nam và mùa bão kết thúc muộn hơn, nhiều cơn bão có quỹ đạo di chuyển dị thường hơn.

Giải pháp ứng phó mang tính địa phương

Trong hoàn cảnh hiện tại, để ứng phó với BĐKH, chúng ta chưa thể đặt vấn đề di dân. Bởi đây là một vấn đề phức tạp cần nhiều thời gian để quy hoạch, sắp xếp. Để ứng phó với BĐKH, mỗi địa phương đề ra những biện pháp mang tính địa phương, tùy điều kiện cụ thể của từng địa phương để đưa ra những biện pháp thích ứng phù hợp, nghĩa là dùng kiến thức của địa phương để ứng phó.

Theo TS Mai Trọng Thông, Viện Địa lý, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam, người dân vùng biển đã chủ động ứng phó với BĐKH. Cụ thể, người nông dân có thể thay đổi mùa vụ, trồng cây ngắn ngày hơn để tránh mùa bão, lũ. Ở vùng ven biển miền trung, vụ đông xuân gần như mất mùa, chỉ còn vụ xuân hè và hè thu.

Hiện nay, các gia đình ở ven biển tỉnh Quảng Nam đã xây nhà cao hơn, có gác xép để khi mưa bão đến có thể di chuyển đồ đạc lên cao. Nước và lương thực được dự trữ trong nhà để sẵn sàng ứng phó. Ngoài ra, mỗi gia đình cũng có trang bị một ghe dùng cho những trường hợp khẩn cấp, mưa bão bất ngờ. Đây được coi là giải pháp sống chung với BĐKH hữu hiệu nhất, giúp người dân chủ động trong những tình huống bất ngờ.

Quảng Nam đã cho xây ngôi nhà chung của thôn. Theo đó, ngôi nhà chung này có hai tầng, trong những ngày bình thường là địa điểm sinh hoạt văn hóa của bà con trong thôn. Trong những ngày mưa bão, là nơi trú ẩn, tránh bão của bà con. Từ thực tế, mỗi thôn sẽ xây dựng từ hai đến ba ngôi nhà chung như vậy. Theo TS Thông, đây là cách làm hay, sáng tạo, cần nhân rộng ở những địa phương ven biển.

Đó là những giải pháp trước mắt mà mỗi địa phương có thể tự thực hiện nhưng để đối phó lâu dài với BĐKH cần những giải pháp dài hơi hơn. Theo ý kiến của các chuyên gia, trong những năm tới, Việt Nam có thể thực hiện giải pháp công trình trong đó có xây dựng đê biển để ngăn chặn tình trạng xâm nhập mặn. Đồng thời quy hoạch lại các vùng phát triển kinh tế – xã hội, thay đổi diện tích đất sản xuất, cây trồng cũng như cơ cấu mùa vụ cho phù hợp. Ngoài ra, việc nâng cao ý thức và trách nhiệm của các cơ quan quản lý và người dân trong vấn đề giảm thiểu tác động cũng như ứng phó với BĐKH cũng rất quan trọng.
Theo Nhandan