Thứ bảy,  25/09/2021

Bài toán lao động và việc làm ở Hữu Lũng

LSO-Theo điều tra, huyện Hữu Lũng có 120 ngàn nhân khẩu, trong đó có 66.238 người trong độ tuổi lao động. Trong những năm gần đây, tuy cơ cấu kinh tế đã có chuyển dịch đáng kể, song lao động chia theo ngành lại có sự chênh lệch khá lớn. Giá trị của nông lâm nghiệp chỉ chiếm 33,4%, song lao động trong lĩnh vực này lại chiếm trên 70%...Trong những năm qua, Hữu Lũng đã thực hiện 2 giải pháp chuyển dịch cơ cấu lao động ( LĐ). Đó là đẩy mạnh xuất khẩu LĐ, tăng cường tiếp thị việc làm đưa LĐ đi làm việc tại các doanh nghiệp ( DN) tại các khu công nghiệp trong nước; đồng thời tăng cường dạy nghề, tạo việc làm mới để giải quyết việc làm và tăng thêm giá trị gia tăng khu vực kinh tế nông thôn.Theo hướng này, công tác xuất khẩu lao động ( XKLĐ) được đẩy mạnh. Nếu giai đoạn 2000-2005, toàn huyện mới có 374 người làm việc tại nước ngoài, thì đến giai đoạn 2006-2010 đã có 752 LĐ đi làm việc tại Đài Loan, Malayxia, Hàn Quốc...Trong thời kỳ CNH, nhiều khu công...

LSO-Theo điều tra, huyện Hữu Lũng có 120 ngàn nhân khẩu, trong đó có 66.238 người trong độ tuổi lao động. Trong những năm gần đây, tuy cơ cấu kinh tế đã có chuyển dịch đáng kể, song lao động chia theo ngành lại có sự chênh lệch khá lớn. Giá trị của nông lâm nghiệp chỉ chiếm 33,4%, song lao động trong lĩnh vực này lại chiếm trên 70%…
Trong những năm qua, Hữu Lũng đã thực hiện 2 giải pháp chuyển dịch cơ cấu lao động ( LĐ). Đó là đẩy mạnh xuất khẩu LĐ, tăng cường tiếp thị việc làm đưa LĐ đi làm việc tại các doanh nghiệp ( DN) tại các khu công nghiệp trong nước; đồng thời tăng cường dạy nghề, tạo việc làm mới để giải quyết việc làm và tăng thêm giá trị gia tăng khu vực kinh tế nông thôn.
Theo hướng này, công tác xuất khẩu lao động ( XKLĐ) được đẩy mạnh. Nếu giai đoạn 2000-2005, toàn huyện mới có 374 người làm việc tại nước ngoài, thì đến giai đoạn 2006-2010 đã có 752 LĐ đi làm việc tại Đài Loan, Malayxia, Hàn Quốc…Trong thời kỳ CNH, nhiều khu công nghiệp được mở ra đã tạo điều kiện cho LĐ Hữu Lũng có việc làm; trong 5 năm qua địa phương đã có 9.920 LĐ đi làm việc tại các DN, chủ yếu là các tỉnh phía nam ( bình quân mỗi năm có từ 500-700 LĐ đi làm việc tại các DN).
Với sự hình thành Trung tâm GDTX 2 của tỉnh đặt tại địa phương và thành lập Trung tâm dạy nghề, Hữu Lũng đã có điều kiện “ kết nối” với một số trường nghề như trường Nông lâm nghiệp Đông Bắc, một số trường nghề ở Bắc Giang… công tác hướng nghiệp dạy nghề nói chung và đào tạo nghề nông thôn nói riêng được đẩy mạnh. Trong 5 năm đã có trên 6000 lao động được đào tạo với các nghề như trồng trọt, chăn nuôi, điện, máy nông nghiệp. Đặc biệt, trường Lâm nghiệp Đông Bắc trở thành là “ bà đỡ” để Hữu Lũng trở thành điểm sáng về kinh tế đồi rừng, kinh tế trang trại. Có nghề, lao động nông thôn lại được hưởng lợi từ quỹ QG về giải quyết việc làm theo Quyết định 71/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, nên họ đã mạnh dạn đầu tư mở nghề mới. Trong 5 năm, địa phương đã giải quyết cho vay 308 dự án với tổng số vốn 7,5 tỷ đồng, giải quyết việc làm và tạo thu nhập ổn định cho 900 lao động nông thôn.
Xúc tiến giới thiệu việc làm theo 2 “ kênh” là xuất khẩu LĐ và lao động doanh nghiệp; đào tạo nghề, cho vay vốn giải quyết việc làm cho LĐ nông thôn, Hữu Lũng đồng thời giải quyết được nhiều vấn đề: “ giãn sức ép “ việc làm, tạo thu nhập cho người LĐ, đẩy nhanh tiến trình giảm nghèo và tiến độ xây dựng nông thôn mới theo hướng CNH-HĐH; giải quyết có hiệu quả vấn đề TNXH.
Trong những năm qua, mặc dù Hữu Lũng đã làm tốt công tác giải quyết việc làm cho NLĐ, song cũng như toàn tỉnh, LĐ Hữu Lũng chủ yếu chưa qua đào tạo mà chỉ là LĐ phổ thông. Trong giai đoạn trước mắt, mỗi năm Hữu Lũng có trên 1000 người bước vào độ tuổi LĐ, dù muốn hay không họ vẫn tham gia thị trường LĐ, song “ cái vốn” nghề của họ còn quá ít để có thể “ bình đẳng” với lao động ngoài tỉnh. Vì vậy, đào tạo nghề phải được coi là khâu đột phá trong chiến lược lao động việc làm của huyện. Trong giai đoạn tới, song song với việc khai thác thị trường LĐ, nâng cao chất lượng LĐ là một trong những nhiệm vụ then chốt của địa phương. Chiến lược đào tạo cần bám sát vào nhu cầu của thị trường lao động và nguyện vọng chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi ở nông thôn. Có thể nói, giá trị kinh tế đồi rừng, kinh tế trang trại ở Hữu Lũng thuộc diện cao nhất tỉnh, song vẫn chưa tương xứng với tiềm năng. Vấn đề là cần tận dụng thế mạnh về chất xám của các nhà trường, các trung tâm để nâng cao “ hàm lượng tri thức” trong mỗi sản phẩm, tạo nhiều sản phẩm nông lâm nghiệp hàng hóa giá trị cao trong nông thôn; qua đó tăng giá trị lao động nông thôn.
Có giải pháp đúng, kiên trì thực hiện, gần 70 ngàn LĐ của Hữu Lũng sẽ tạo ra được một lượng vật chất rất lớn, đời sống nhân dân sẽ được cải thiện nhanh, số tích lũy sẽ nhiều lên. Và như vậy địa phương sẽ thành công trong việc tận dụng giai đoạn “ dân số vàng” để phát triển KTXH.

Minh Hồng