Thứ bảy,  25/09/2021

Bắc Sơn- 5 năm một hành trình XĐGN

LSO-5 năm- một thời gian không dài so với tiến trình phát triển, song bằng nhiều giải pháp khác nhau, huyện Bắc Sơn đã thực hiện thành công công tác xóa đói giảm nghèo; tỷ lệ hộ nghèo từ 29,6% năm 2006, đến nay chỉ còn 15,3%...Thực hiện đồng bộ các giải pháp Toàn huyện có 20 xã, thị trấn với tổng dân số trên 65 ngàn người, Bắc Sơn có tới 16 xã thuộc vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, trong đó có 3 xã ĐBKK. Trong những năm qua, cấp ủy, chính quyền và toàn hệ thống chính trị coi công tác xóa đói giảm nghèo là một trong những nhiệm vụ trọng tâm xuyên suốt trong quá trình phát triển. Vì vậy, nhiều giải pháp đã được áp dụng.Cải thiện cơ sở hạ tầng nông thôn được coi là bước đột phá nhằm giải phóng sức sản xuất, khai thác tiềm năng thế mạnh của các địa phương. Với CSVC được tạo dựng và khai thác trong giai đoạn trước, trên 100 công trình hạ tầng và 2 trung tâm cụm xã được xây dựng mới và phát huy hiệu quả đã...

LSO-5 năm- một thời gian không dài so với tiến trình phát triển, song bằng nhiều giải pháp khác nhau, huyện Bắc Sơn đã thực hiện thành công công tác xóa đói giảm nghèo; tỷ lệ hộ nghèo từ 29,6% năm 2006, đến nay chỉ còn 15,3%…
Thực hiện đồng bộ các giải pháp
Toàn huyện có 20 xã, thị trấn với tổng dân số trên 65 ngàn người, Bắc Sơn có tới 16 xã thuộc vùng có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn, trong đó có 3 xã ĐBKK. Trong những năm qua, cấp ủy, chính quyền và toàn hệ thống chính trị coi công tác xóa đói giảm nghèo là một trong những nhiệm vụ trọng tâm xuyên suốt trong quá trình phát triển. Vì vậy, nhiều giải pháp đã được áp dụng.
Cải thiện cơ sở hạ tầng nông thôn được coi là bước đột phá nhằm giải phóng sức sản xuất, khai thác tiềm năng thế mạnh của các địa phương. Với CSVC được tạo dựng và khai thác trong giai đoạn trước, trên 100 công trình hạ tầng và 2 trung tâm cụm xã được xây dựng mới và phát huy hiệu quả đã làm cho cơ sở hạ tầng nông thôn Bắc Sơn hoàn thiện từ điện lưới, trường học, trạm y tế, chợ… Vừa tạo điều kiện cho người dân tiếp cận các dịch vụ xã hội, vừa “mở cửa” trong lưu thông “hai chiều” hàng hóa, thúc đẩy sản xuất và tiêu dùng. Vấn đề an ninh lương thực được giải quyết vững chắc với bình quân lương thực đầu người không ngừng tăng, từ 430kg năm 2006 lên 495kg/ người năm 2009. Giải quyết được vấn đề lương thực đã góp phần quan trọng trong việc ổn định đời sống nhân dân, tạo điều kiện thuận lợi cho việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng theo hướng sản xuất hàng hóa. Vì vậy, thu nhập của cư dân nông thôn không ngừng tăng; nếu năm 2006, bình quân thu nhập ở mức 6,68 triệu đồng/ người, thì năm 2009 đã đạt 10,99 triệu đồng/ người.

Khách hàng giao dịch tại Ngân hàng NN&PTNT huyện Văn Lãng – Ảnh: Lê Minh
Thực hiện chính sách tín dụng song song với dạy nghề và chuyển giao KHKT về nông thôn. Trong 5 năm đã tổ chức được 124 lớp dạy nghề cho 2641 lượt lao động nông thôn; tổ chức các hội nghị đầu bờ cho trên 7000 lượt nông dân. Cung ứng kịp thời các loại giống cây trồng, vật nuôi, vật tư nông nghiệp; thực hiện chính sách trợ cước, trợ giá một cách kịp thời, nên mỗi khi có sự thay đổi về giá cả, bà con nông dân vẫn có vật tư để phát triển sản xuất. Thông qua việc giải quyết vay vốn của Ngân hàng Chính sách xã hội và tổ chức dạy nghề, hàng ngàn lao động nông thôn tạo được việc làm mới. Các mô hình kinh tế trang trại, kinh tế lân lũng, mô hình sản xuất, dịch vụ ở nông thôn không những mang lại thu nhập cho người dân, mà còn góp phần xây dựng nông thôn mới theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Việc hỗ trợ người nghèo đã trở thành phong trào hành động của toàn hệ thống chính trị. Từ năm 2007-2009, huyện đã hỗ trợ cải thiện nhà ở cho 1433 gia đình, trong đó có 1154 nhà thuộc chương trình 134, 128 nhà thuộc quỹ vì người nghèo và 154 nhà thuộc chương trình 167. Công tác trợ giúp pháp lý, trợ giúp giáo dục, y tế cho người nghèo và thực hiện chính sách bảo trợ xã hội được thực hiện chu đáo.
Đầu tư đúng hướng để giảm nghèo bền vững
Từ năm 2006 đến nay, nông dân Bắc Sơn liên tiếp được mùa và được giá thuốc lá. Trước đây, xã Trấn Yên chưa mưa đã ngập, chưa nắng đã hạn, người dân chỉ cấy được 1 vụ lúa, toàn xã còn đến trên 50% hộ nghèo. Được nhà nước đầu tư các công trình thủy lợi đầu mối cũng như nội đồng, người dân làm ăn đã thuận hơn, nếu cây lúa đảm bảo đủ ăn, thì cây thuốc lá đã mang lại lợi nhuận lớn và thực sự trở thành cây giảm nghèo. Mùa thu hoạch thuốc lá, không hiếm người dân Trấn Yên ra thị trấn mua két sắt đựng tiền. Bình quân mỗi hộ có 1 chiếc tivi và 1,5 xe máy. Vẫn cái nhà sàn, nhưng nó được thiết kế lại theo kiểu “khép kín” có nước sạch, công trình vệ sinh… nông dân bây giờ không đun bằng củi mà đun bằng bếp ga. Giáo dục phát triển, một lớp thanh niên mới trưởng thành và có chí hướng làm ăn; thay vì “con xe Min” và cái cưa xăng, nhiều cửa hàng dịch vụ sửa chữa máy nông nghiệp ra đời.
Có dịp trao đổi với chúng tôi, đồng chí Chủ tịch UBND xã cho rằng, đối với Trấn Yên, đầu tư cho thủy lợi là “đầu tư cho phát triển”; chính thủy lợi hóa đã tạo đà cho cơ giới hóa; mà đã “cơ giới hóa” thì nông dân không thể làm ăn theo kiểu được chăng hay chớ, mà phải tính đến giá thành kinh tế “đầu vào và đầu ra” trong sản xuất; tính toán tức là tư duy, tính “đầu vào đầu ra” là điển hình cuả tư duy cơ chế thị trường.

Năm năm, với tốc độ giảm nghèo bình quân gần 3% mỗi năm là một thành tựu lớn. Nó càng có ý nghĩa đối với vùng đất Bắc Sơn- một vùng có địa hình đa dạng, các tiểu vùng khí hậu rất khác nhau; có nhiều dân tộc và cung cách làm ăn khác nhau. Điều tra cặn kẽ hộ nghèo, đến dân, sát dân để tìm hiểu nguyên nhân nghèo đói và tâm tư tình cảm của người dân và trong khả năng của mình, tìm các giải pháp khả thi, đi vào cái “chốt” của vấn đề để cố gắng đáp ứng những nhu cầu bức thiết của dân. Đó là “bí quyết giảm nghèo ở Bắc Sơn”.

Minh Hồng