Thứ tư,  22/09/2021

"Ðại thụ" trên cao nguyên đá

Ông Sùng Đại Dùng (trong ảnh), người dân tộc Mông, năm nay 80 tuổi, ở xã Ma Lé, huyện Đồng Văn, vùng cao nguyên đá của tỉnh Hà Giang. Gắn bó cả cuộc đời với sự nghiệp cách mạng, hàng chục năm qua ông Dùng bám bản, bám thôn trên vùng núi cực bắc cheo leo đặc biệt khó khăn.Sớm tham gia cách mạng, năm 14 tuổi ông làm liên lạc cho các đồng chí cán bộ cách mạng hoạt động trên vùng cao Đồng Văn và chính thức gia nhập Đoàn Thanh niên Vệ quốc đoàn huyện, rồi bộ đội địa phương. Thời gian đảm nhiệm nhiều công việc khác nhau do Đảng và tổ chức phân công, người cán bộ cựu trào là cán bộ xã ở khu tự trị Việt Bắc, giữ cương vị Bí thư huyện Đoàn, Thường vụ Tỉnh Đoàn, rồi Bí thư Đoàn Thanh niên xung phong. Bấy giờ ông Sùng Đại Dùng là Phó ban chỉ huy công trường mở tuyến đường lịch sử mang tên Hạnh Phúc, dài 150 km từ thị xã Hà Giang lên Đồng Văn. Ròng rã bốn năm (từ 1959 đến 1963) miệt mài xẻ đá, bạt núi...

Ông Sùng Đại Dùng (trong ảnh), người dân tộc Mông, năm nay 80 tuổi, ở xã Ma Lé, huyện Đồng Văn, vùng cao nguyên đá của tỉnh Hà Giang. Gắn bó cả cuộc đời với sự nghiệp cách mạng, hàng chục năm qua ông Dùng bám bản, bám thôn trên vùng núi cực bắc cheo leo đặc biệt khó khăn.

Sớm tham gia cách mạng, năm 14 tuổi ông làm liên lạc cho các đồng chí cán bộ cách mạng hoạt động trên vùng cao Đồng Văn và chính thức gia nhập Đoàn Thanh niên Vệ quốc đoàn huyện, rồi bộ đội địa phương. Thời gian đảm nhiệm nhiều công việc khác nhau do Đảng và tổ chức phân công, người cán bộ cựu trào là cán bộ xã ở khu tự trị Việt Bắc, giữ cương vị Bí thư huyện Đoàn, Thường vụ Tỉnh Đoàn, rồi Bí thư Đoàn Thanh niên xung phong. Bấy giờ ông Sùng Đại Dùng là Phó ban chỉ huy công trường mở tuyến đường lịch sử mang tên Hạnh Phúc, dài 150 km từ thị xã Hà Giang lên Đồng Văn. Ròng rã bốn năm (từ 1959 đến 1963) miệt mài xẻ đá, bạt núi trên vùng đất hiểm trở, bà con sáu tỉnh khu tự trị Việt Bắc đã hoàn thành con đường mang lại ấm no, hạnh phúc cho hàng vạn đồng bào đang sinh sống phía sau “Cổng trời” Quản Bạ…

Từ những năm 60 thế kỷ XX đến thời kỳ đất nước bắt đầu đổi mới, ông giữ các cương vị Tỉnh ủy viên, Chủ tịch UBND huyện Mèo Vạc, Bí thư Huyện Mèo Vạc, rồi Phó Chủ tịch UBND tỉnh Hà Tuyên. Từ năm 1987 đến 1991 ông làm Chủ tịch Ủy ban MTTQ tỉnh. Khi Đảng và Nhà nước có chủ trương mở đường lên vùng cao nguyên đá, ông lặn lội xuống bản làng tuyên truyền, vận động, thuyết phục bà con, thanh niên các dân tộc hiểu tầm quan trọng của nhiệm vụ mở đường. Hiểu rồi, bà con hăng hái chung tay làm đường đi các xã biên giới, tuyến xã nội địa, khu dân cư, kết hợp chăm sóc, bảo vệ và trồng rừng mang lại hiệu quả kinh tế, giữ gìn môi trường sinh thái. Giữa lúc tình hình đất nước còn khó khăn, các thế lực thù địch rắp tâm chống phá Đảng, Nhà nước ta về mọi mặt, là người có uy tín, ông đứng ra vận động, giáo dục, thuyết phục đồng bào luôn đoàn kết, chống truyền đạo trái pháp luật, một lòng tin tưởng vào cấp ủy, chính quyền ở cơ sở.

Cao nguyên đá Đồng Văn thường xuyên hạn hán kéo dài, nguồn nước khan hiếm, ông trực tiếp cùng bà con làm thử mô hình thủy điện nhỏ đầu tiên ở Seo Hồ. Dấu chân ông đã đặt đến hầu khắp các bản làng chênh vênh bạt ngàn núi đá tai mèo, có mặt ở tất cả các xã hai tỉnh Hà Giang và Tuyên Quang. Ông ăn mèn mén, uống rượu ngô, sống cùng dân, ở cùng dân, và tuyên truyền, vận động đồng bào đi theo con đường của Đảng và Bác Hồ. Còn nhớ có thời kỳ, nhiều nơi đồng bào vùng cao, vùng sâu, vùng xa trồng cây thuốc phiện, Hà Giang là một trong những nơi trồng nhiều nhất. Thực hiện chủ trương của Trung ương và tỉnh, ông lại khăn gói lặn lội đến tận các làng bản xa xôi hẻo lánh. Bấy giờ huyện Yên Minh có “xã nóng” Đường Thượng, nơi có khoảng 270 gia đình bà con dân tộc Mông sinh sống vẫn công khai gùi thuốc phiện ra chợ bán. Ông Dùng nhớ lại, đó là thời điểm nan giải và cam go vô cùng… Toàn xã trồng thuốc phiện, nhà nhà đều có người nghiện. Bí thư xã nghiện, xã đội trưởng cũng nghiện. Về xã, bản, ông Dùng gặp gỡ bà con, cùng ăn, cùng uống rượu, rồi nói chuyện phải trái. Ông dẫn việc xã, bản bên Đồng Văn, Mèo Vạc đã bỏ được cây thuốc phiện, cuộc sống ngày càng tốt lên. Ngay cả nhà ông, bố đẻ cũng nghiện thuốc phiện, đã bỏ được. Điều băn khoăn lớn nhất của đông đảo bà con là bỏ trồng cây thuốc phiện, thì cuộc sống ra sao, đủ thóc gạo ăn không? Ông Dùng trả lời như đinh đóng cột: Tôi nói là tôi làm! Bỏ thuốc phiện đồng bào không có ăn thì cứ tìm tôi!

Bám xã, bám bản, rồi đi đi về về tỉnh và Trung ương xin cơ chế, chủ trương, ròng rã cả năm trời mới làm được vụ đó. Người cán bộ vùng cao nói. Điều rất mừng đa số người dân ở Đường Thượng đã bỏ trồng cây thuốc phiện, không hút và không bị nghiện như ngày xưa. Hàng nghìn người dân đã vượt qua cơn mê muội, chí thú làm ăn, vươn lên ổn định đời sống. Vườn cây thuốc phiện xưa nay xanh mướt một mầu cải dầu – loại cây chuyển đổi kinh tế. Giữ lời hứa, năm nào ông Dùng cũng cho ô-tô chở gạo lên đổi lấy hạt cải. Ông tâm sự: Đời tôi sáng ra, được như hôm nay là do nghe theo lời Bác Hồ, có Đảng chỉ đường soi lối. Mình cũng biết ơn nhân dân đã đào tạo, giúp mình trưởng thành hơn.

Ông nay về hưu và sinh sống cùng gia đình tại tổ 2, phường Quang Trung, thị xã Hà Giang. Dù tuổi cao, sức yếu, nhưng bằng kinh nghiệm và sự trải nghiệm cuộc sống, ông tiếp tục đóng góp những ý kiến quý báu về công tác xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền cơ sở, và công tác dân tộc trong thời kỳ mới. Với quan niệm làm cán bộ ở vùng cao, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, không thể chỉ tay năm ngón suông, ông Dùng luôn nhắc nhở anh em, dân bầu mình ra để lo việc nước, để phục vụ nhân dân. Làm được thế, cán bộ phải nói sao cho dân tin, dân hiểu, làm cho dân học tập, làm theo. Cán bộ phải cùng ăn, cùng ở, thấu hiểu cái đói, cái nghèo của bà con để giúp họ biết tự thân vươn lên…

Vinh dự thay mặt 23 bà con các dân tộc anh em từ miền cao nguyên đá dịp này về Thủ đô Hà Nội dự Đại hội đại biểu các dân tộc thiểu số Việt Nam, ông bày tỏ mong muốn Đảng và Nhà nước quan tâm hơn nữa việc đào tạo, bồi dưỡng thế hệ trẻ nghệ nhân người dân tộc thiểu số sử dụng các loại nhạc cụ truyền thống đặc sắc. Ông nói, điều đó giúp giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa đậm đà của bà con, giới thiệu với bè bạn các nước trên thế giới khi đất nước ta hội nhập.
Theo Nhandan