Thứ năm,  06/10/2022

Chấn chỉnh, siết chặt việc đầu tư tràn lan các nhà máy thép

Theo Quy hoạch phát triển ngành thép Việt Nam đã được Chính phủ phê duyệt, đến năm 2025, tổng công suất của các nhà máy thép trên cả nước sẽ đạt 20 triệu tấn/năm. Tuy nhiên, đến thời điểm này, tổng công suất các dự án thép được cấp phép lên đến con số 40 triệu tấn/năm, vượt gấp hai lần quy hoạch. Tình trạng đầu tư các dự án thép bừa bãi, sai quy hoạch ở các địa phương cho thấy, cần phải mạnh tay siết chặt hơn nữa việc cấp phép cho các dự án thép."Khủng hoảng thừa" thépThời gian qua, nước ta có nhiều chính sách mới khuyến khích đầu tư trong nước, kêu gọi đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đầu tư vào ngành thép. Sau năm 2000, đã có nhiều công ty tư nhân, công ty cổ phần và công ty 100% vốn nước ngoài đầu tư vào ngành thép. Đến hết quý I năm nay, tổng công suất các nhà máy gang thép đang vận hành đã đạt qua con số 20 triệu tấn, nhưng điều đáng lo ngại là các nhà máy phải vận hành thấp hơn mức công suất thiết kế....

Theo Quy hoạch phát triển ngành thép Việt Nam đã được Chính phủ phê duyệt, đến năm 2025, tổng công suất của các nhà máy thép trên cả nước sẽ đạt 20 triệu tấn/năm. Tuy nhiên, đến thời điểm này, tổng công suất các dự án thép được cấp phép lên đến con số 40 triệu tấn/năm, vượt gấp hai lần quy hoạch. Tình trạng đầu tư các dự án thép bừa bãi, sai quy hoạch ở các địa phương cho thấy, cần phải mạnh tay siết chặt hơn nữa việc cấp phép cho các dự án thép.

“Khủng hoảng thừa” thép

Thời gian qua, nước ta có nhiều chính sách mới khuyến khích đầu tư trong nước, kêu gọi đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đầu tư vào ngành thép. Sau năm 2000, đã có nhiều công ty tư nhân, công ty cổ phần và công ty 100% vốn nước ngoài đầu tư vào ngành thép. Đến hết quý I năm nay, tổng công suất các nhà máy gang thép đang vận hành đã đạt qua con số 20 triệu tấn, nhưng điều đáng lo ngại là các nhà máy phải vận hành thấp hơn mức công suất thiết kế. Cụ thể, sản xuất phôi thép hơn 5,7 triệu tấn/năm nhưng chỉ sản xuất khoảng 2 triệu tấn, thép xây dựng 7,83 triệu tấn/năm nhưng thực tế chỉ sản xuất hơn bốn triệu tấn, cuộn cán nguội 2,5 triệu tấn/năm, chỉ sản xuất hơn hai triệu tấn,…

Năm 2009, nhu cầu thép trong nước đạt hơn 11,7 triệu tấn, trong nước sản xuất chiếm một nửa, còn lại nhập khẩu các sản phẩm chưa sản xuất được như thép tấm, thép cuộn cán nóng (HRC), thép hợp kim, thép chế tạo cơ khí, thép hình cỡ lớn… Từ cuối năm 2009 đến nay, nhiều địa phương vẫn tiếp tục “bài ca” cấp phép đầu tư các dự án thép, không tuân thủ quy hoạch do Bộ Công thương xây dựng. Theo thống kê chưa đầy đủ, cả nước hiện có 32 dự án thép nằm ngoài quy hoạch, đó là chưa kể nhiều dự án thép được cấp phép nhiều năm nhưng chưa được triển khai, hoặc “chuyển nhượng” cho đối tác khác. Trong đó, Bà Rịa – Vũng Tàu có bảy dự án ngoài quy hoạch, TP Hải Phòng năm dự án, Thanh Hóa và Hải Dương bốn dự án, Hà Tĩnh ba dự án… Các dự án thép bùng nổ đầu tư nhưng chủ yếu chỉ là công nghệ cũ nát, lạc hậu, năng lực tài chính thấp. Nhà nước khuyến khích đầu tư vào các dự án thép thượng nguồn (sản xuất phôi thép từ quặng, phế liệu) và những sản phẩm thép đặc chủng chưa sản xuất được. Nhưng trên thực tế, phần lớn các dự án tập trung đầu tư vào hạ nguồn, chỉ nhập phôi về cán,… Tình trạng đầu tư tràn lan các dự án thép như hiện nay gây lãng phí lớn về tiền của, tiêu hao năng lượng và đất đai vì các dự án này thường tiêu hao điện năng và chiếm diện tích đất lớn, nguồn vốn hàng nghìn tỷ đồng và thời gian đầu tư kéo dài. Phá vỡ quy hoạch thép có thể gây ra những hậu quả khó lường, nhất là về môi trường. Để sản xuất được một tấn thép, môi trường phải chịu 2,9 tấn khí CO2 và một lượng lớn xỉ thép. Lãng phí công suất, hiệu quả kinh tế thấp, tính cạnh tranh sản phẩm yếu là những gì có thể nói về ngành thép hiện nay.

Việc quản lý cấp phép đầu tư vào các dự án sản xuất gang, thép tại một số địa phương trong những năm qua chưa bảo đảm các điều kiện cần thiết về quy mô, công nghệ sản xuất, chủng loại sản phẩm, nguồn nguyên liệu đầu vào, hạ tầng cơ sở, đánh giá tác động môi trường…, dẫn đến tình trạng một số dự án đầu tư thiếu tính bền vững, mất cân đối giữa sản xuất thượng nguồn và hạ nguồn, không bảo đảm các yêu cầu về môi trường, rủi ro cao.

Siết chặt việc cấp phép

Trước tình trạng này, Chính phủ chỉ đạo các bộ, UBND tỉnh và thành phố, Hiệp hội Thép Việt Nam (VSA) nhắc nhở, chấn chỉnh trong việc cấp phép xây dựng các dự án thép. Bộ Công thương cũng ra quy định cụ thể việc cấp phép đầu tư cho các dự án thép nhằm lập lại trật tự trong đầu tư ngành thép. Tuy nhiên tới nay, việc cấp phép đầu tư tràn lan đối với các dự án thép chưa có dấu hiệu cải thiện.

Với nhịp độ đầu tư cho ngành thép như hiện nay đang rất lãng phí về tiền của và đất đai, hiệu quả kinh tế thấp. Đây cũng là một trong yếu tố khiến giá thành thép nội cao, khó cạnh tranh với hàng nhập khẩu. Nhiều nhà đầu tư thép, kể cả chủ những dự án liên hợp lớn không phải là những nhà luyện kim có uy tín và kinh nghiệm, thậm chí có đơn vị không chứng minh được năng lực tài chính để triển khai dự án. Vì thế, đã đến lúc cần siết chặt việc thực hiện đúng quy hoạch ngành thép để tránh lãng phí. Nhiều dự án không đủ điều kiện phát triển bền vững vì thiếu nguyên liệu, thiếu điều kiện hạ tầng như điện, nước, giao thông vận tải, cho nên nhà máy mới vận hành một thời gian ngắn đã phải ngừng sản xuất, gây lãng phí lớn.

Chủ tịch Hiệp hội Thép Việt Nam (VSA) Phạm Chí Cường cho biết, VSA đã kiến nghị Thủ tướng chỉ thị các địa phương thực hiện nghiêm túc các quy định của Chính phủ trong việc cấp giấy phép đầu tư cho ngành thép. Nếu dự án nào không thực hiện đúng quy hoạch, dứt khoát yêu cầu địa phương phải chỉnh sửa lại, tránh cản trở các nhà đầu tư có tiềm lực khác. Thời gian qua, các địa phương cấp giấy phép đầu tư quá nhiều, làm cho ngành công nghiệp thép trở thành một trong những ngành nhập siêu lớn. Thời gian tới, chỉ cấp phép đầu tư sản xuất các sản phẩm thép nước ta chưa sản xuất được như thép dẹt cán nóng, thép hợp kim,… Chính phủ và các địa phương cần nhanh chóng rà soát lại tiến độ thực hiện các dự án, nhất là các dự án đầu tư lớn của nước ngoài triển khai chậm trễ, lưu ý khả năng tài chính để tiếp tục thực hiện dự án, nếu không có lý do chính đáng thì có thể rút giấy phép.
Theo Nhandan