Thứ tư,  28/09/2022

Đề án "Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020": Cơ hội "vàng" cho lao động nông thôn

LSO-“Đề án Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020 thực sự rất khác so với những đề án đào tạo nghề trước đó. Khác không chỉ bởi quy mô đào tạo lớn hơn, kinh phí nhiều hơn mà còn khác ở việc dạy cho người nông dân những nghề mà họ muốn học có thể đáp ứng nhu cầu làm việc của họ...”.Ông Dương Đức Lâm, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Dạy nghề đã nói vậy tại cuộc họp với UBND tỉnh trong ngày 24/6/2010 về việc triển khai thực hiện Quyết định 1956 trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn. Theo Phó Tổng cục trưởng, nhằm nâng cao chất lượng lao động nông thôn, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, ngày 27/11/2009 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành QĐ số 1956/QĐ-TTg phê duyệt Đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020”, gọi tắt là Đề án 1956. Theo đó, dạy nghề nông thôn cần triển khai theo mục tiêu “6 có”, đó là: Có trường dạy nghề, có cơ sở vật chất, có chương trình đào tạo, có giáo viên, có...

LSO-“Đề án Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020 thực sự rất khác so với những đề án đào tạo nghề trước đó. Khác không chỉ bởi quy mô đào tạo lớn hơn, kinh phí nhiều hơn mà còn khác ở việc dạy cho người nông dân những nghề mà họ muốn học có thể đáp ứng nhu cầu làm việc của họ…”.
Ông Dương Đức Lâm, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Dạy nghề đã nói vậy tại cuộc họp với UBND tỉnh trong ngày 24/6/2010 về việc triển khai thực hiện Quyết định 1956 trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn. Theo Phó Tổng cục trưởng, nhằm nâng cao chất lượng lao động nông thôn, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, ngày 27/11/2009 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành QĐ số 1956/QĐ-TTg phê duyệt Đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020”, gọi tắt là Đề án 1956. Theo đó, dạy nghề nông thôn cần triển khai theo mục tiêu “6 có”, đó là: Có trường dạy nghề, có cơ sở vật chất, có chương trình đào tạo, có giáo viên, có chính sách cho người học và đặc biệt là có nhu cầu về lao động của các doanh nghiệp. Đây là yêu cầu xuất phát từ thực tế, nhằm gắn kết người lao động với giải quyết việc làm. Người lao động khi tham gia học nghề ngoài được hỗ trợ tiền học phí, tiền ăn, tiền đi lại với mức tối đa 3 triệu đồng/khóa học, sau khi kết thúc còn được giới thiệu việc làm hoặc nếu có nhu cầu sẽ được ưu tiên cho vay vốn để tự tạo việc làm.
Thanh niên nông thôn được học nghề cơ khí tại Trường Trung cấp nghề Việt Đức – Ảnh: Thuý Hường
Để thực hiện được các mục tiêu cụ thể về đào tạo nghề cho lao động nông thôn trong giai đoạn sắp tới theo Đề án 1956 của Thủ tướng Chính phủ, ngân sách nhà nước sẽ hỗ trợ 100% chi phí học nghề cho lao động nông thôn thuộc diện được hưởng chính sách ưu đãi (Người có công với cách mạng, hộ nghèo, người dân tộc tiểu số, người tàn tật, người bị thu hồi đất canh tác, lao động nông thôn thuộc diện hộ có thu nhập thấp…). Đề án 1956 còn hỗ trợ tiền ăn với mức 15.000 đồng/ngày thực học /người; hỗ trợ tiền đi lại với mức tối đa không quá 200.000 đồng/người/khoá học đối với người học nghề ở xa nơi cư trú từ 15km trở lên. Ngoài ra đề án còn tạo điều kiện cho lao động nông thôn học nghề được vay vốn để học theo quy định hiện hành về tín dụng đối với học sinh, sinh viên. Lao động nông thôn làm việc ổn định ở nông thôn sau khi học nghề được ngân sách hỗ trợ 100% lãi suất đối với khoản vay để học nghề. Lao động nông thôn sau khi học nghề được vay vốn từ Quỹ quốc gia về việc làm thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm để tự tạo việc làm.
Nói một cách cụ thể, Đề án 1956 không chỉ mở rộng diện lao động khu vực nông thôn sẽ được đào tạo nghề mà còn đặt lợi ích của người dân lên hàng đầu. Minh chứng rõ nhất, Đề án 1956 đã mở ra cho người nông dân cơ hội được học những nghề mà họ muốn, hoặc họ thấy cần cho cuộc sống và công việc của chính mình. Những đề án dạy nghề cho lao động nông thôn trước đây mới chỉ mang tính “hướng cung” – tức là mới mang những nghề mình có dạy cho bà con. Còn nay, Đề án 1956 đã mở ra cơ hội lớn hơn cho người nông dân, họ sẽ được “hướng cầu” – tức là sẽ được học những nghề gì mà mình thích, mình cần. Về quan điểm này, bà Trương Thị Hợp, Phó Giám đốc Sở LĐ-TB&XH tỉnh cho biết: Với quy định mới, đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020 sẽ góp phần nâng cao chất lượng đào tạo cũng như tìm đầu ra trong giải quyết việc làm cho người dân nông thôn. Hiện nay, số lượng lao động nông thôn cần việc làm do bàn giao đất phục vụ cho việc phát triển các khu công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn là rất lớn. Vì vậy, thực hiện đề án 1956 sẽ xác định được việc học ngành gì, học như thế nào để giải quyết hết số lao động nông thôn cần chuyển đổi… Tại cuộc họp ngày 24/6 vừa qua, lãnh đạo Hội Nông dân tỉnh cũng khẳng định: Hiện nay đa phần lao động nông thôn không có tay nghề, đặc biệt số lao động trên 40 tuổi trình độ văn hóa thấp, nhưng có nhu cầu học nghề cao. Vì vậy, chính sách ưu đãi về vay vốn tín dụng cho lao động nông thôn, nhất là đối với số lao động sau khi học xong tiếp tục làm nông nghiệp của Đề án sẽ khuyến khích bà con theo chủ trương “ly nông bất ly hương”.
Nhìn lại, chúng ta đã thấy Đề án số 12 của Tỉnh uỷ Lạng Sơn về đạo tạo nghề cho lao động nông thôn đã tạo nên một bộ mặt mới ở các vùng nông thôn. Trước khi có Đề án số 12 (trước năm 2006), toàn tỉnh chỉ có 6 cơ sở đào tạo nghề, tỷ lệ lao động nông thôn được đào tạo cũng đạt thấp (16,37%). Nhưng sau khi thực hiện Đề án 12, bình quân mỗi năm chúng ta đào tạo được hơn 6.000 lao động là nông dân. Thông qua Đề án 12 Lạng Sơn đã đạt được một số thành quả về đào tạo nghề cho lao động nông thôn. Cộng với những chính sách ưu đãi của Đề án 1956, thời gian tới, lao động nông thôn trên địa bàn tỉnh sẽ có nhiều cơ hội học nghề, thực hiện mục tiêu chuyển đổi nghề nghiệp, tạo điều kiện đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động, góp phần xây dựng nông thôn mới theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn.

Trí Dũng