Thứ năm,  22/04/2021

Giải pháp nào để nông dân trồng lúa có lãi 30%?

Từ năm 2003 đến nay, xuất khẩu gạo của nước ta luôn đứng thứ hai trên thế giới và năm 2009 xuất khẩu hơn sáu triệu tấn gạo đem về cho đất nước hàng tỷ USD.Trong đó, phần lớn lúa hàng hóa xuất xứ từ đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) nhưng thu nhập của người trồng lúa chỉ tương đương với hộ cận nghèo. Để nông dân giảm bớt khó khăn, Chính phủ đã yêu cầu các địa phương xác định giá thành sản xuất lúa để doanh nghiệp thu mua bảo đảm nông dân có lãi ít nhất 30%. Tuy nhiên, tính toán thế nào, giá thành bao nhiêu để người trồng lúa có lãi 30% đang gặp khó khăn.Hiện nay, đầu vào cho hạt lúa nông dân phải chịu rất nhiều chi phí nhưng đầu ra giá cả sản phẩm thì họ không được quyết định. Vì vậy, giá thành sản xuất lúa ra sao để khi bán đi nông dân vẫn có lãi 30%. Để đạt được mục tiêu này theo chỉ đạo của Chính phủ, Bộ Tài chính đã có hướng dẫn phương pháp điều tra, khảo sát chi phí sản xuất, tính giá thành...

Từ năm 2003 đến nay, xuất khẩu gạo của nước ta luôn đứng thứ hai trên thế giới và năm 2009 xuất khẩu hơn sáu triệu tấn gạo đem về cho đất nước hàng tỷ USD.

Trong đó, phần lớn lúa hàng hóa xuất xứ từ đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) nhưng thu nhập của người trồng lúa chỉ tương đương với hộ cận nghèo. Để nông dân giảm bớt khó khăn, Chính phủ đã yêu cầu các địa phương xác định giá thành sản xuất lúa để doanh nghiệp thu mua bảo đảm nông dân có lãi ít nhất 30%. Tuy nhiên, tính toán thế nào, giá thành bao nhiêu để người trồng lúa có lãi 30% đang gặp khó khăn.

Hiện nay, đầu vào cho hạt lúa nông dân phải chịu rất nhiều chi phí nhưng đầu ra giá cả sản phẩm thì họ không được quyết định. Vì vậy, giá thành sản xuất lúa ra sao để khi bán đi nông dân vẫn có lãi 30%. Để đạt được mục tiêu này theo chỉ đạo của Chính phủ, Bộ Tài chính đã có hướng dẫn phương pháp điều tra, khảo sát chi phí sản xuất, tính giá thành sản xuất lúa các vụ trong năm theo nguyên tắc tính toán mỗi khoản chi phí tính vào giá thành sản xuất lúa phải được xác minh, phân tích, xác định rõ về số lượng, giá trị, thời gian và địa điểm chi ra; không lấy chi phí chi ra để sản xuất cây trồng khác để tính toán cho chi phí sản xuất lúa. Trong trường hợp nếu có chi phí nào chi chung thì khi tính chi phí sản xuất và giá thành phải phân bổ cho từng loại cây trồng, từng loại cây trồng theo tiêu thức hợp lý. Thực hiện việc tính chi phí sản xuất theo từng yếu tố chi phí và quy về tính cho 1 ha, tính giá thành lúa theo từng khoản mục cụ thể và thể hiện bằng tiền cho một đơn vị sản phẩm (đồng/kg)… Khi tính giá thành kế hoạch để công bố ngay từ đầu vụ thì tính theo sản lượng kế hoạch do cơ quan có thẩm quyền công bố; giá thành thực tế tính theo sản lượng thực thu. Để tính giá thành lúa, các địa phương cần xác định chi phí vật chất như chi phí giống, phân bón, khấu hao tài sản cố định, tưới, tiêu, làm đất, bảo vệ thực vật, thủy lợi phí, chi phí dụng cụ nhỏ, vật rẻ tiền, lãi vay ngân hàng bằng với số lượng nhân với đơn giá. Bên cạnh đó, là chi phí lao động, giá trị sản phẩm phụ để loại trừ khỏi chi phí sản xuất chính… Từ những phương pháp đó mới xác định giá thành lúa làm cơ sở công bố giá mua lúa ngay từ đầu vụ sản xuất.

Trong lần trả lời chất vấn đại biểu Quốc hội vừa qua, Bộ trưởng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Cao Đức Phát cho biết, hiện Bộ đang phối hợp các bộ, ngành và địa phương nghiêm túc thực hiện chủ trương của Thủ tướng Chính phủ để nông dân có lãi hơn 30% so với giá thành. Vùng ĐBSCL, vụ đông xuân vừa qua, nông dân trung bình đạt mức lãi 30%; vụ hè thu, nếu thành công trong việc thu mua đúng tiến độ có thể sẽ giữ được giá bán khoảng hơn 4.000 đồng/kg, với giá thành của nông dân (chưa có điều tra của các địa phương) theo ước tính của Bộ khoảng từ 3.200 đến 3.400 đồng/kg thì nông dân có thể có lãi từ 25 đến 30%. Bộ sẽ tiếp tục cùng Bộ Công thương, Hiệp hội Lương thực, các doanh nghiệp tích cực tìm nhiều giải pháp thiết thực để có thể nâng giá thu mua và thu mua kịp thời cho nông dân. Tuy nhiên, nhiều nông dân ĐBSCL cho rằng, việc công bố giá thành sản xuất lúa của cơ quan chức năng hiện nay rất chậm trễ, gây thiệt thòi cho nông dân. Hơn nữa, cách tính giá còn nhiều bất cập dẫn đến chưa chính xác, còn bỏ qua nhiều yếu tố cấu thành giá. Nhất là chưa tính đến yếu tố rất quan trọng là giá trị sử dụng đất (tiền mua hoặc thuê đất). Nếu tính đúng, tính đủ thì giá thành sản xuất lúa sẽ cao hơn nhiều và nông dân gần như không còn lãi.

Chúng tôi về huyện Càng Long (Trà Vinh), một trong những vùng lúa trọng điểm của tỉnh. Phó Trưởng phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Trần Minh Trí cho biết: Vụ lúa hè thu năm nay toàn huyện xuống giống 13.789 ha, do khô hạn, xâm nhập mặn đã làm 1.943 ha lúa của 4.316 hộ bị thiệt hại. Ước tính bình quân năng suất vụ lúa hè thu này chỉ có thể đạt khoảng bốn tấn/ha. Khi hỏi về giá thành sản xuất lúa hè thu năm nay là bao nhiêu? Anh Trần Minh Trí cho biết: Phòng Nông nghiệp huyện không được giao chức năng điều tra tính toán giá thành sản xuất. Do đó, chúng tôi không tổ chức thống kê để tính giá thành sản xuất, vì vậy nếu có đi làm thì cũng không được công nhận kết quả. Để tìm hiểu thực tế người nông dân trên địa bàn hiện nay có lãi 30% chưa, chúng tôi gặp anh Châu Văn Điền ở ấp 5, xã An Trường, huyện Càng Long. Anh cho biết, gia đình anh có 18,5 công ruộng, trong đó chi phí giống hơn 18 triệu đồng, phân bón hơn 5,3 triệu đồng; thuốc bảo vệ thực vật là 2,3 triệu đồng; công làm đất, xuống giống, bón phân, phun thuốc, dậm lúa, bơm nước, cắt lúa, vận chuyển, phơi lúa là hơn 10 triệu đồng. Tính ra, chi phí cho 1.000 m2 đất chưa đến 875.000 đồng, với năng suất lúa đạt 7,6 tấn/ha với giống lúa IR 50404 và 6,8 tấn/ha với giống OM 5451. Năng suất cao, chi phí thấp nên dù cả hai loại lúa IR 50404 và OM 5451 đều chỉ bán được cùng giá 3.300 đồng/kg, gia đình anh vẫn lãi gần 1,4 lần so với chi phí bỏ ra. Tuy nhiên, không phải gia đình nào cũng có lãi như gia đình anh Điền….

Có thể nói, việc công bố giá mua lúa bảo đảm ít nhất phải cao hơn 30% so với giá thành sản xuất để nông dân có lãi là chủ trương đúng đắn của Chính phủ để giảm bớt khó khăn cho người trồng lúa. Tuy nhiên, ngoài việc ấn định giá thành sản phẩm, bảo đảm lợi nhuận thì các cơ quan chức năng cũng cần có chính sách, giải pháp cải thiện thu nhập cho nông dân. Để làm được điều này, theo Cục trưởng Cục Trồng trọt Nguyễn Trí Ngọc thì nên quan tâm đến chính sách, giải pháp về xây dựng cơ sở hạ tầng, trong đó đầu tư, tăng mức hỗ trợ cho kiên cố hóa kênh mương; hỗ trợ xây dựng đường giao thông nội đồng nhằm thúc đẩy cơ giới hóa trong nông nghiệp; nghiên cứu cho phép áp dụng chính sách hỗ trợ việc chuyển đổi cây trồng, vật nuôi có giá trị cao nhằm tăng thu nhập cho các hộ trồng lúa; tăng cường vốn đầu tư xây dựng các mô hình áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật tiên tiến; có chế độ ưu đãi cho vay đối với các hộ trồng lúa có mức thu nhập thấp; khoanh nợ, giãn nợ hoặc xóa nợ khi gặp rủi ro về thiên tai, sâu bệnh…
Theo Nhandan