Thứ ba,  19/10/2021

Xuất khẩu lao động: chiến lược giảm nghèo của tỉnh (Kỳ I)

Kỳ I: Bức tranh toàn cảnh về công tác XKLĐ LSO-Theo số liệu thống kê, từ năm 2003 đến nay có 4.409 lượt người đi xuất khẩu lao động (XKLĐ), trong đó thời kỳ được coi là “hoàng kim” XKLĐ của tỉnh Lạng Sơn là vào những năm 2007 (XKLĐ được 994 người), 2008 (XKLĐ được 300 người)…. Tuy nhiên, trong năm 2009, XKLĐ của tỉnh mới đạt được 69 trường hợp và từ đầu năm 2010 đến nay mới chỉ có 16 người đi XKLĐ. Sự “thụt lùi” này tạo ra một bức tranh “ảm đạm” cho công tác XKLĐ, thực sự là vấn đề nan giải của tỉnh.Từ chủ trương đến thực tếTrong những năm qua, thực hiện chủ trương đẩy mạnh công tác XKLĐ, UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 23/2003/QĐ-UBND ngày 22/10/2003 về việc ban hành Đề án XKLĐ và chuyên gia đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài giai đoạn 2003-2005 và đến năm 2007 UBND tỉnh tiếp tục ban hành Kế hoạch số 41/KH-UBND ngày 23/7/2007 về triển khai công tác đưa NLĐ Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng giai đoạn 2007-2010. Ngay sau khi...

Kỳ I: Bức tranh toàn cảnh về công tác XKLĐ
LSO-Theo số liệu thống kê, từ năm 2003 đến nay có 4.409 lượt người đi xuất khẩu lao động (XKLĐ), trong đó thời kỳ được coi là “hoàng kim” XKLĐ của tỉnh Lạng Sơn là vào những năm 2007 (XKLĐ được 994 người), 2008 (XKLĐ được 300 người)…. Tuy nhiên, trong năm 2009, XKLĐ của tỉnh mới đạt được 69 trường hợp và từ đầu năm 2010 đến nay mới chỉ có 16 người đi XKLĐ. Sự “thụt lùi” này tạo ra một bức tranh “ảm đạm” cho công tác XKLĐ, thực sự là vấn đề nan giải của tỉnh.
Từ chủ trương đến thực tế
Trong những năm qua, thực hiện chủ trương đẩy mạnh công tác XKLĐ, UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 23/2003/QĐ-UBND ngày 22/10/2003 về việc ban hành Đề án XKLĐ và chuyên gia đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài giai đoạn 2003-2005 và đến năm 2007 UBND tỉnh tiếp tục ban hành Kế hoạch số 41/KH-UBND ngày 23/7/2007 về triển khai công tác đưa NLĐ Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng giai đoạn 2007-2010. Ngay sau khi có Đề án và kế hoạch, từ tỉnh đến các huyện, thành phố đã thành lập Ban chỉ đạo XKLĐ, tổ chức tuyên truyền cho NLĐ về mục đích, ý nghĩa của công tác XKLĐ, trách nhiệm và quyền lợi của NLĐ khi tham gia. Đồng thời, tỉnh đã tiến hành thẩm định, kiểm tra tư cách pháp nhân, uy tín hoạt động của các doanh nghiệp đã được cấp giấy phép hoạt động trong lĩnh vực XKLĐ. Theo đó, tính đến nay, Sở LĐTB&XH đã thẩm định và giới thiệu được 35/40 doanh nghiệp hoạt động XKLĐ về các huyện, thành phố tiến hành tư vấn, tuyển chọn lao động.
Người lao động truy cập thông tin tìm việc làm
Trên thực tế, các công ty đã phối hợp với chính quyền địa phương tuyên truyền lồng ghép bằng nhiều hình thức như qua các kênh thông tin đại chúng, bằng văn bản trong đó nêu rõ tiêu chuẩn, quyền lợi, mức chi phí… để người dân hiểu rõ công tác XKLĐ nói riêng và về việc làm nói chung. Đồng thời tiến hành mở hội nghị tư vấn tại địa phương, thậm chí đến các thôn, bản. Trong quá trình triển khai nhìn chung các công ty đều tập trung thực hiện, giữ được mối quan hệ chặt chẽ với các ngành liên quan, bám sát cơ sở địa bàn, tạo được niềm tin đối với NLĐ như Công ty Traenco, OSC, Sona, Prosimex… Bên cạnh đó, đối với hệ thống ngân hàng, công tác cấp hộ chiếu cũng như công tác khám sức khỏe cho NLĐ đều được triển khai thực hiện đồng bộ trên cơ sở tạo điều kiện thuận lợi nhất cho NLĐ tham gia XKLĐ.
Tuy nhiên, trong số 4.409 lượt người đi XKLĐ từ năm 2003 đến nay thì ngoài số lao động đã về nước, hiện tại tỉnh ta còn khoảng 1.200 lao động đang làm việc ở một số nước như Hàn Quốc, Đài Loan, Malaysia và một số ít ở các nước khu vực Trung Đông.
Những tác động khách quan
Từ thực tế trên cho thấy, công tác XKLĐ của tỉnh ta thời gian qua vẫn là một chương trình mới, các cấp, các ngành còn thiếu kinh nghiệm về chỉ đạo công tác này trên phạm vi rộng. Đặc biệt ngành LĐTB&XH là cơ quan thường trực cũng còn gặp nhiều khó khăn trong thực hiện. Bên cạnh đó, chất lượng lao động của tỉnh còn thấp chưa đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của thị trường, ý thức chấp hành kỷ luật lao động của NLĐ chưa cao, đội ngũ cán bộ làm công tác XKLĐ còn nhiều hạn chế, đặc biệt còn nhiều hộ gia đình nghèo không đáp ứng được nguồn kinh phí cần thiết để đi làm việc ở nước ngoài. Mặt khác, trong giai đoạn này công tác XKLĐ gặp nhiều khó khăn do khách quan đem lại như tình trạng lao động lĩnh vực xây dựng tại Malaysia – vốn là thị trường lao động truyền thống của Việt Nam – bị mất việc làm phải về nước trước thời hạn, nhất là khoảng thời gian đầu năm 2008 bắt đầu bị ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng tài chính kinh tế thế giới.
Tư vấn việc làm trực tiếp cho thanh niên lao động nông thôn
Những tác động trên đã dẫn đến việc 334 người phải về nước trước thời hạn, chiếm tỷ lệ 7,6% so với số lao động đã xuất khẩu. Theo tổng hợp của Ngân hàng Chính sách xã hội thì trong số này, phần lớn là lao động đã đi xuất khẩu từ năm 2006, 2007. Bên cạnh nhân tố khách quan thì còn một số nguyên nhân chủ quan từ phía NLĐ như: không đủ sức khỏe, vi phạm kỷ luật, không chịu làm việc, làm hỏng sản phẩm, không đáp ứng công việc, đánh nhau, trộm cắp, có thai, xin về, bỏ trốn ra ngoài… Bên cạnh số lao động phải về nước thì còn có 35 lao động quá 6 tháng chưa được đi hoặc không đi, do 2 nguyên nhân chính là không được gọi, được gọi nhưng không tiếp tục tham gia.
(Còn tiếp kỳ II)

Thanh Huyền