Chủ nhật,  20/06/2021

Lao động trẻ em: Vấn đề cần quan tâm

LSO-Luật Lao động Việt Nam xác định độ tuổi người lao động (LĐ) là từ đủ 15 tuổi, đối với trẻ em từ đủ 15 đến dưới 18 tuổi chỉ phải làm việc tối đa 7 giờ/ngày và môi trường cũng như điều kiện LĐ phải theo quy định. Tuy nhiên, trên thực tế hiện nay, việc trẻ em (TE) phải vào đời LĐ sớm đang là vấn đề nhức nhối, trở thành nỗi niềm trăn trở của các cấp, các ngành chức năng.Thực trạng tại Lạng SơnMặc dù Lạng Sơn không phải là một thành phố công nghiệp với nhiều nhà máy, công ty lớn nhưng hiện nay thành phố của chúng ta đang trên đà phát triển, cơ sở hạ tầng cũng như các thiết chế khác đang từng bước đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - văn hóa – xã hội của địa phương. Dạo quanh một vòng các trục đường lớn của thành phố, chúng ta sẽ dễ dàng bắt gặp những em nhỏ trạc tầm 10-14 tuổi đeo thùng đồ nghề lỉnh kỉnh và miệng rao “ai đánh giầy đi”. Nhìn gương mặt các em cũng khôi ngô, sáng sủa nhưng phải bon...

LSO-Luật Lao động Việt Nam xác định độ tuổi người lao động (LĐ) là từ đủ 15 tuổi, đối với trẻ em từ đủ 15 đến dưới 18 tuổi chỉ phải làm việc tối đa 7 giờ/ngày và môi trường cũng như điều kiện LĐ phải theo quy định. Tuy nhiên, trên thực tế hiện nay, việc trẻ em (TE) phải vào đời LĐ sớm đang là vấn đề nhức nhối, trở thành nỗi niềm trăn trở của các cấp, các ngành chức năng.
Thực trạng tại Lạng Sơn
Mặc dù Lạng Sơn không phải là một thành phố công nghiệp với nhiều nhà máy, công ty lớn nhưng hiện nay thành phố của chúng ta đang trên đà phát triển, cơ sở hạ tầng cũng như các thiết chế khác đang từng bước đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế – văn hóa – xã hội của địa phương. Dạo quanh một vòng các trục đường lớn của thành phố, chúng ta sẽ dễ dàng bắt gặp những em nhỏ trạc tầm 10-14 tuổi đeo thùng đồ nghề lỉnh kỉnh và miệng rao “ai đánh giầy đi”. Nhìn gương mặt các em cũng khôi ngô, sáng sủa nhưng phải bon chen với đời để kiếm sống. Bằng tuổi các em, bạn bè đang vui chơi, học hành nhưng các em thì khác. Khi được hỏi, phần lớn các em từ các miền quê như Nam Định, Thái Bình, Thanh Hóa, Nghệ An… lên Lạng Sơn tìm việc làm. Hoàn cảnh gia đình khó khăn, chủ yếu bố mẹ làm nghề nông, nhà đông anh em nên phải nghỉ học để kiếm tiền phụ giúp bố mẹ…
Ở nông thôn trẻ em cũng là những lực lượng lao động chính trong các hộ gia đình
Thực tế là vậy, song theo số liệu thống kê của Phòng Bảo trợ trẻ em (BTTE), Sở LĐTB&XH cho thấy, con số các ngành chức năng nắm được quả là ít ỏi. Năm 2005, trên địa bàn tỉnh có 120 TE lang thang, năm 2009 có 77 trẻ và đến nay còn có 55 trẻ, giảm 28% so với cùng kỳ năm trước. Trong số TE lang thang trên địa bàn tỉnh thì có đến 95% TE từ các tỉnh khác đến Lạng Sơn kiếm sống. Hiện nay, phần lớn số TE này trú tại phường Tam Thanh, Hoàng Văn Thụ, Đông Kinh (thành phố Lạng Sơn). Một số các em theo gia đình lên Lạng Sơn tạm trú để làm ăn sinh sống, còn lại phần lớn các em đi theo nhóm rồi tập trung thuê nhà trọ, có phân cử nhóm trưởng phụ trách chung.
Hiện nay, theo ngành chức năng, trong hai năm 2009, 2010, trên địa bàn tỉnh ta chưa phát hiện TE nào phải LĐ nặng nhọc, trong điều kiện độc hại, nguy hiểm. Tuy nhiên, kết quả này cũng chỉ là tương đối bởi theo như chị Hoàng Thị Nhất, cán bộ phòng BTTE cho biết thì ngành chức năng thực sự khó kiểm tra, thống kê chính xác được hết. Vừa thiếu cán bộ, vừa không có nhiều kinh phí. Bởi trên thực tế như chúng ta vẫn thấy, đâu đó trên các công trường xây dựng, quán ăn hay các trục đường phố vẫn thấy cảnh TE phải LĐ quá sức của mình. Thế nhưng, khi cơ quan chức năng đến kiểm tra thì các chủ sử dụng LĐ đã “hợp thức hoá” các “lao động nhí” thành con, cháu trong nhà đến giúp việc. Vì vậy, thực sự khó kiểm soát cũng như thống kê được chính xác số LĐTE thực tế hiện nay.
Chính sách bảo vệ trẻ em
Bên cạnh những chính sách bảo vệ chăm sóc trẻ em (BVCSTE) theo Công ước Quyền TE và Luật LĐ Việt Nam thì năm 2004, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 19/2004/QĐ-TTg giai đoạn 2004-2010 về việc phê duyệt chương trình ngăn ngừa và giải quyết tình trạng TE lang thang, TE bị xâm hại tình dục và TE phải LĐ nặng nhọc trong điều kiện độc hại, nguy hiểm. Sau 6 năm triển khai thực hiện, đến nay công tác truyền thông nâng cao năng lực đã cho thấy hiệu quả thiết thực, phần nào giúp nhân dân hiểu về công tác BVCSTE. Đối với các em nhỏ lang thang kiếm sống trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn, cán bộ làm công tác BVCSTE ở cơ sở thường xuyên liên lạc với gia đình, nhóm trưởng để nắm bắt thông tin, kịp thời tư vấn, liên hệ với địa phương, gia đình đưa trẻ hồi gia, giúp đỡ tránh trường hợp để các em rơi vào tệ nạn xã hội.
Theo số liệu thống kê của Sở LĐTB&XH, hàng năm, Sở đều có chương trình phối hợp với các ban ngành liên quan triển khai các hoạt động ngăn ngừa và giải quyết tình trạng TE lang thang kiếm sống, tư vấn, hỗ trợ giúp các em học văn hoá, học nghề và tổ chức đưa trở lại gia đình. Tính từ năm 2007 đến tháng 8/2010 các ngành chức năng đã tư vấn cho 249 lượt TE lang thang, đưa trở lại gia đình 133 lượt trẻ (trong số TE hồi gia có nhiều trường hợp tái lang thang). Trong số TE hồi gia có 99 TE được trợ cấp khó khăn, 32 TE được học văn hoá, học nghề. Tuy nhiên, bên cạnh sự nỗ lực của các ngành chức năng trong thực hiện chính sách BVCSTE thì việc ngăn ngừa TE lang thang kiếm sống, LĐ quá sức, quá sớm vẫn xảy ra nhiều. Đặc biệt tình trạng TE tái lang thang vẫn diễn ra vì khi đưa về gia đình, do các em không có việc làm, nhà nghèo nên các em lại phải ra đi kiếm sống. Do vậy, việc quản lý, nắm bắt thông tin, quản lý TE lang thang và số LĐTE thực sự là vấn đề khó khăn, bất cập.
Lời kết
Tình trạng LĐTE trên địa bàn tỉnh ta dù chưa phải là “điểm nóng” song cũng là một vấn đề các ngành chức năng cần quan tâm và vào cuộc hơn nữa trong việc phối hợp thực hiện hiệu quả Quyết định 19 của Thủ tướng Chính phủ, cũng như công ước quyền TE và Luật LĐ Việt Nam. Qua đó từng bước góp phần xóa bỏ tình trạng LĐTE vị thành niên trong cả nước nói chung, tại tỉnh Lạng Sơn nói riêng như hiện nay.

Thanh Huyền