Chủ nhật,  11/04/2021

Kiểm soát bệnh đái tháo đường

Đó là khẩu hiệu của Liên đoàn Đái tháo đường thế giới vừa phát đi nhân Ngày đái tháo đường thế giới (14-11), nhằm kêu gọi sự quan tâm hơn nữa và đưa ra những hành động cần thiết để kiểm soát căn bệnh đang ảnh hưởng tới hơn 300 triệu người trên toàn thế giới.Bệnh đái tháo đường (ĐTĐ) đang gia tăng nhanh trên toàn thế giới kéo theo những hậu quả nghiêm trọng về sức khỏe và kinh tế đối với toàn xã hội. Số người mắc ĐTĐ trên toàn thế giới tăng từ 171 triệu năm 2000 lên 246 triệu năm 2006 và được dự báo tăng lên 380 đến 399 triệu vào 2025. Tại các nước phát triển, tỷ lệ người mắc bệnh tăng là 42%, nhưng tại các nước đang phát triển tỷ lệ này là 170%. Trong đó chủ yếu là ĐTĐ týp 2 chiếm khoảng 85 đến 95% tổng số người mắc bệnh. ĐTĐ là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ tư trên thế giới, gây giảm tuổi thọ trung bình từ năm đến mười năm, là nguyên nhân hàng đầu gây mù lòa và suy thận giai đoạn cuối. Cứ...

Đó là khẩu hiệu của Liên đoàn Đái tháo đường thế giới vừa phát đi nhân Ngày đái tháo đường thế giới (14-11), nhằm kêu gọi sự quan tâm hơn nữa và đưa ra những hành động cần thiết để kiểm soát căn bệnh đang ảnh hưởng tới hơn 300 triệu người trên toàn thế giới.

Bệnh đái tháo đường (ĐTĐ) đang gia tăng nhanh trên toàn thế giới kéo theo những hậu quả nghiêm trọng về sức khỏe và kinh tế đối với toàn xã hội. Số người mắc ĐTĐ trên toàn thế giới tăng từ 171 triệu năm 2000 lên 246 triệu năm 2006 và được dự báo tăng lên 380 đến 399 triệu vào 2025. Tại các nước phát triển, tỷ lệ người mắc bệnh tăng là 42%, nhưng tại các nước đang phát triển tỷ lệ này là 170%. Trong đó chủ yếu là ĐTĐ týp 2 chiếm khoảng 85 đến 95% tổng số người mắc bệnh. ĐTĐ là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ tư trên thế giới, gây giảm tuổi thọ trung bình từ năm đến mười năm, là nguyên nhân hàng đầu gây mù lòa và suy thận giai đoạn cuối. Cứ mười giây lại có một người chết do nguyên nhân ĐTĐ và các biến chứng; cứ 30 giây lại có một người ĐTĐ có biến chứng bàn chân bị cắt cụt chi.

Vì những thực tế này LHQ đánh giá ĐTĐ là một bệnh phổ biến, mãn tính, nguy hiểm và chi phí tốn kém. Cho đến nay LHQ mới chỉ quyết định công nhận có hai dịch bệnh có tầm nguy hiểm quốc tế là bệnh ĐTĐ và HIV/AIDS. Bệnh ĐTĐ tăng nhanh ở các nước có nền kinh tế đang phát triển là do có sự thay đổi nhanh về lối sống, về thói quen ăn uống không hợp lý. Giảm hoạt động thể lực và chế độ ăn giàu năng lượng, ít chất xơ; bệnh béo phì; giảm dung nạp glu-cô và rối loạn đường huyết lúc đói đang là các yếu tố nguy cơ làm bệnh ĐTĐ týp 2 trở thành &#39đại dịch&#39. Việc chẩn đoán bệnh ĐTĐ hiện nay được ví như phần nổi của một tảng băng, phần được chẩn đoán – chiếm một phần nhỏ là phần nổi phía trên, còn phần lớn chưa được chẩn đoán là phần chìm của tảng băng đó. Bệnh ĐTĐ đã, đang và sẽ là gánh nặng cho nền kinh tế, xã hội của cả thế giới và mỗi quốc gia trong thế kỷ 21. Phần lớn chi phí cho điều trị của người ĐTĐ gắn liền với việc giải quyết biến chứng của bệnh và thường chiếm tới hai phần ba tổng chi phí điều trị.

Tại nước ta, những năm gần đây, các bệnh nhiễm trùng có xu hướng ngày một giảm thì các bệnh không lây nhiễm như: tim mạch, tâm thần, ung thư… nhất là ĐTĐ và các rối loạn chuyển hóa ngày càng tăng. Nếu như năm 1990, nghiên cứu dịch tễ bệnh ĐTĐ đầu tiên đã được tổ chức ở Hà Nội, tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ là 1,2% (ở những người từ 15 tuổi trở lên) thì đến năm 2001, điều tra dịch tễ học bệnh ĐTĐ theo chuẩn quốc tế tại bốn thành phố: Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, TP Hồ Chí Minh, tỷ lệ bệnh là 4%. Kết quả điều tra này thực sự là tiếng chuông cảnh báo về tình trạng bệnh ĐTĐ nói riêng và bệnh không lây nói chung ở Việt Nam, đặc biệt có hơn 64,9% số người mắc bệnh ĐTĐ không được phát hiện và không được hướng dẫn điều trị. Theo tính toán sơ bộ của điều tra quốc gia năm 2008, tỷ lệ bệnh trong lứa tuổi từ 30 đến 69 trong cả nước khoảng 5,7% dân số, nếu chỉ ở khu vực thành phố, khu công nghiệp tỷ lệ bệnh từ 7 đến 10%. Điều đáng lo ngại hơn là bệnh xuất hiện ở lứa tuổi trẻ ngày càng nhiều. Tỷ lệ thừa cân, béo phì đang tăng nhanh ở lứa tuổi thiếu niên là nguồn bổ sung đáng lo ngại cho bệnh ĐTĐ týp 2. Chi phí điều trị bệnh ĐTĐ ở nước ta còn nặng nề hơn do: người bệnh thường vào viện khi có biến chứng, biến chứng càng nhiều chi phí cho thuốc chữa bệnh, cho số ngày phải nằm điều trị càng cao. Phần lớn người bệnh không có khả năng tự chi trả, dù đã có hỗ trợ của bảo hiểm y tế.

Viện trưởng ĐTĐ và các rối loạn chuyển hóa PGS, TS Tạ Văn Bình, cho rằng: Hiện nay hiểu biết của người dân về căn bệnh này còn quá thấp (chỉ có 22% số người được hỏi biết về bệnh ĐTĐ một cách mơ hồ, không có người nào biết cách phòng, chống bệnh); trình độ hiểu biết kiến thức về bệnh của nhân viên y tế cũng còn hạn chế; hệ thống phòng và điều trị bệnh nội tiết, rối loạn chuyển hóa trong đó có bệnh ĐTĐ chưa có… Khi người bệnh đến bệnh viện thường đã có những biến chứng nặng, dẫn tới kéo dài thời gian điều trị, tăng chi phí trong điều trị. Qua kết quả điều tra dịch tễ học bệnh ĐTĐ những năm gần đây cho thấy: Chế độ điều trị được áp dụng chủ yếu là thuốc (70,9%), thuốc kết hợp với chế độ ăn (29,1%), chế độ ăn với tập luyện (2,9%). Điều này nói lên sự yếu kém trong công tác quản lý nhóm người có yếu tố nguy cơ mắc bệnh cao trong cộng đồng và nhóm người mới được chẩn đoán chỉ cần chế độ ăn và tập luyện để điều chỉnh lượng glu-cô. Số người bị bệnh ĐTĐ được phát hiện sớm chỉ có 35,5%, người bệnh không được chẩn đoán chiếm 64,5%. Việc khám sàng lọc ĐTĐ thai kỳ và các yếu tố nguy cơ hầu như chưa được quan tâm.

Trong khi đó, cơ cấu khoa nội tiết ở bệnh viện và trung tâm y tế cũng như phân bố giường bệnh dành cho người bệnh mắc bệnh nội tiết chưa phù hợp với cơ cấu bệnh tật, nhất là xu hướng gia tăng về bệnh nội tiết và rối loạn chuyển hóa hiện nay. Qua điều tra có tới 80% số bệnh viện, trung tâm y tế không có khoa nội tiết; tỷ lệ giường bệnh điều trị nội tiết/tổng số giường bệnh chỉ chiếm 1,23%; trung bình có 0,97 giường bệnh nội tiết/100 nghìn dân… Nguồn nhân lực thì thiếu trong thời gian dài, hiện tại chưa có các thầy thuốc chuyên ngành nội tiết theo đúng các tiêu chuẩn chung quốc tế.

KINH nghiệm phòng, chống bệnh ĐTĐ và các rối loạn chuyển hóa ở các quốc gia đã chứng minh: Để quản lý, kiểm soát bệnh ĐTĐ thành công cần huy động được cả cộng đồng cùng tham gia, trong đó vai trò của cơ quan tham mưu rất quan trọng, vì đây là cơ quan vạch chiến lược, đào tạo cán bộ, tổ chức thực hiện. Để khắc phục những khiếm khuyết trong công tác dự phòng, quản lý và điều trị bệnh ĐTĐ ở Việt Nam, cần thiết phải đẩy mạnh nghiên cứu để xây dựng chiến lược phòng, chống bệnh ĐTĐ và các rối loạn chuyển hóa phù hợp; áp dụng các kiến thức cơ bản vào thực tế lâm sàng và cộng đồng. Đồng thời, mỗi người dân cần được nâng cao kỹ năng sống: dinh dưỡng hợp lý và luyện tập đúng cách.

Thông điệp của Hiệp hội ĐTĐ thế giới gửi tới mọi người:

– Biết các yếu tố nguy cơ bệnh ĐTĐ và các dấu hiệu cảnh báo.

– Biết cách đối phó và nhận biết sự thay đổi của các yếu tố nguy cơ.

– Biết cách quản lý và kiểm soát bệnh ĐTĐ.

Theo Nhandan