Thứ bảy,  10/04/2021

Hưởng ứng Tháng Hành động QG Dân số-KHHGĐ: Công tác dân số và sự phát triển bền vững

LSO-Nghị quyết số 47-NQ/TW ngày 23/2/2005 của Bộ Chính trị về “Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện chính sách dân số và KHHGĐ” đã nêu rõ “Kết quả của công tác Dân số- KHHGĐ đã góp phần rất quan trọng vào sự phát triển KTXH, tăng thu nhập bình quân đầu người hằng năm; xóa đói giảm nghèo và nâng cao mức sống nhân dân…”Tập huấn giám sát hỗ trợ hoạt động truyền thông chuyển đổi hành vi dân số và KHHGĐChiến lược dân số là một bộ phận quan trọng của chiến lược phát triển đất nước, là một trong những vấn đề hàng đầu tác động trực tiếp đến KTXH, là yếu tố cơ bản để nâng cao chất lượng cuộc sống. Theo tính toán, nếu cuối năm 2010, tỷ lệ các cặp vợ chồng áp dụng các biện pháp tránh thai đạt khoảng 87%, mức giảm sinh giảm 0,2%o so với năm 2009; tỷ lệ tăng dân số sẽ ở mức dưới 1%, chúng ta sẽ “tránh sinh ra” được trên 15.000 trẻ - tương đương với việc giảm được 500 lớp học và bao nhiêu chi phí xã hội khác. Trong chiến lược dân số giai...

LSO-Nghị quyết số 47-NQ/TW ngày 23/2/2005 của Bộ Chính trị về “Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện chính sách dân số và KHHGĐ” đã nêu rõ “Kết quả của công tác Dân số- KHHGĐ đã góp phần rất quan trọng vào sự phát triển KTXH, tăng thu nhập bình quân đầu người hằng năm; xóa đói giảm nghèo và nâng cao mức sống nhân dân…”

Tập huấn giám sát hỗ trợ hoạt động truyền thông chuyển đổi hành vi dân số và KHHGĐ
Chiến lược dân số là một bộ phận quan trọng của chiến lược phát triển đất nước, là một trong những vấn đề hàng đầu tác động trực tiếp đến KTXH, là yếu tố cơ bản để nâng cao chất lượng cuộc sống. Theo tính toán, nếu cuối năm 2010, tỷ lệ các cặp vợ chồng áp dụng các biện pháp tránh thai đạt khoảng 87%, mức giảm sinh giảm 0,2%o so với năm 2009; tỷ lệ tăng dân số sẽ ở mức dưới 1%, chúng ta sẽ “tránh sinh ra” được trên 15.000 trẻ – tương đương với việc giảm được 500 lớp học và bao nhiêu chi phí xã hội khác. Trong chiến lược dân số giai đoạn 2001-2010, tỉnh ta đã huy động mọi nguồn lực của xã hội cho công tác Dân số- KHHGĐ, nhằm làm thay đổi nhận thức và hành vi của công dân, của từng gia đình về công tác Dân số- KHHGĐ, làm cho mọi người, mọi gia đình, toàn xã hội chấp nhận mô hình ít con khoẻ mạnh, hạnh phúc. Đây là mục tiêu và là điều kiện để công tác Dân số- KHHGĐ phát triển bền vững. Trong suốt thời gian ấy, với chiến lược giảm sinh khá vững chắc, tỉnh ta đã tiết kiệm được hàng ngàn tỷ đồng, số tiền ấy để dành đầu tư cho phát triển, xóa đói giảm nghèo và nâng cao cuộc sống. Công tác Dân số- KHHGĐ là một lĩnh vực đặc biệt do Chi cục Dân số- KHHGĐ thuộc Sở Y tế quản lý; tuy nhiên vai trò các cấp ủy đảng và chính quyền cũng như các ban ngành có vị trí hết sức quan trọng để tuyên truyền các đối tượng tham gia thực hiện các chính sách của Đảng, nhà nước và của địa phương về công tác Dân số- KHHGĐ. Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề dân số với phát triển, công tác Dân số- KHHGĐ đã được lồng ghép vào chương trình của ngành giáo dục để dần hình thành ý thức sinh sản cho thanh niên. Các ban ngành đoàn thể đóng góp cho công tác Dân số- KHHGĐ bằng những buổi truyền thông lồng ghép; nhân dân đã được cung cấp những kiến thức nhất định về vị trí vai trò và mối quan hệ của công tác Dân số- KHHGĐ với kinh tế, văn hoá, giáo dục cũng như sự phân cực giàu nghèo. Nhiều tổ chức chính trị xã hội đề ra những ràng buộc như cặp vợ chồng phải chấp nhận một biện pháp tránh thai mới hội đủ điều kiện vay vốn phát triển sản xuất; nhiều nơi, chính quyền, cơ quan đảng và các cơ quan, đoàn thể vào cuộc một cách mạnh mẽ như không xét thi đua, lên lương thậm chí không xét đề bạt…đối với những người vi phạm chính sách dân số; nhiều khu dân cư không bình xét danh hiệu gia đình văn hoá cho những gia đình sinh con thứ ba trở lên…
Phải nói rằng, các chỉ thị của Đảng và nhà nước đặc biệt là Chỉ thị số 21 của UBND tỉnh đã nhanh chóng đi vào cuộc sống tác động đến các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ ở mọi lúc, mọi nơi và nâng lên thành dư luận xã hội phê phán mạnh mẽ những hiện tượng tiêu cực trong công tác Dân số- KHHGĐ, làm thay đổi những quan niệm lạc hậu về công tác dân số, trong những năm qua, tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên ngày càng thấp đã chứng tỏ điều đó. Giờ đây, người dân đã hiểu vai trò của công tác dân số với sự phát triển bền vững của xã hội, là yếu tố quan trọng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân; nâng cao tiềm lực của lực lượng sản xuất; là yếu tố cơ bản để xóa đói giảm nghèo; giảm tình trạng thất nghiệp, nâng cao vị thế của người phụ nữ, tạo bình đẳng trong xã hội…

Với quan điểm “đầu tư cho dân số là đầu tư cho phát triển bền vững”, nhà nước thường xuyên quan tâm đầu tư nguồn ngân sách lớn cho công tác dân số-KHHGĐ và cũng như liên tiếp mở các chiến dịch chăm sóc sức khỏe sinh sản đến vùng cao, vùng khó khăn vùng đông dân và vùng có mức sinh cao; sự đầu tư này đã mang lại hiệu quả rõ rệt. Với tinh thần trách nhiệm cao, đội ngũ cán bộ làm công tác dân số, từ cộng tác viên dân số thôn bản đến các Trung tâm và Chi cục dân số luôn nỗ lực cho một sự phát triển dân số hợp lý, bền vững và nâng cao chất lượng dân số.

Minh Hồng