Thứ sáu,  16/04/2021

Người thầy trên phá Tam Giang

Lớp học tình thương của anh Trần Văn Hòa nằm ngay trên bờ vùng đầm Sam, thuộc phá Tam Giang - khu vực Đập Góc của hai xã Phú An và Phú Mỹ, huyện Phú Vang (Thừa Thiên - Huế). Anh là một ngư dân ở vùng đầm Sam. Suốt 20 năm qua anh đã tình nguyện dạy chữ cho trẻ em nghèo và đêm về cũng giăng lưới, thả câu mưu sinh trên đầm phá.Lớp học tình thươngNăm 1985, sau hàng chục trận bão liên tiếp khiến ngư dân vạn đò, sống lênh đênh trên vùng đầm phá Tam Giang - Cầu Hai phải gánh gồng đưa nhau lên bờ an cư lạc nghiệp. Ở hai xã Phú An và Phú Mỹ (Phú Vang) cũng đã hình thành nên một xóm nhỏ có 40 hộ dân, với hơn 300 nhân khẩu lên định cư tại khu vực Đập Góc. Đời sống khó khăn, nỗi lo cơm áo bủa vây khiến nhiều ngư dân vùng đầm phá chẳng thiết tha đến chuyện học hành của con cái. Cái vòng luẩn quẩn thất học - nghèo khó - lạc hậu đã bó buộc cuộc sống của người dân nơi đây. Hơn...

Lớp học tình thương của anh Trần Văn Hòa nằm ngay trên bờ vùng đầm Sam, thuộc phá Tam Giang – khu vực Đập Góc của hai xã Phú An và Phú Mỹ, huyện Phú Vang (Thừa Thiên – Huế). Anh là một ngư dân ở vùng đầm Sam. Suốt 20 năm qua anh đã tình nguyện dạy chữ cho trẻ em nghèo và đêm về cũng giăng lưới, thả câu mưu sinh trên đầm phá.

Lớp học tình thương

Năm 1985, sau hàng chục trận bão liên tiếp khiến ngư dân vạn đò, sống lênh đênh trên vùng đầm phá Tam Giang – Cầu Hai phải gánh gồng đưa nhau lên bờ an cư lạc nghiệp. Ở hai xã Phú An và Phú Mỹ (Phú Vang) cũng đã hình thành nên một xóm nhỏ có 40 hộ dân, với hơn 300 nhân khẩu lên định cư tại khu vực Đập Góc. Đời sống khó khăn, nỗi lo cơm áo bủa vây khiến nhiều ngư dân vùng đầm phá chẳng thiết tha đến chuyện học hành của con cái. Cái vòng luẩn quẩn thất học – nghèo khó – lạc hậu đã bó buộc cuộc sống của người dân nơi đây. Hơn nữa, từ xóm Đập Góc đến trường đi bộ độ chừng 3 km, xóm lại cô lập giữa đầm phá, nhất là mùa mưa đường sá đi lại cực kỳ khó khăn.

Năm 1990, anh Trần Văn Hòa mới 28 tuổi, vừa giải ngũ về, anh đã quyết định mở lớp học tình thương dạy chữ miễn phí cho trẻ em nghèo đầm phá nơi anh lớn lên. Anh Hòa kể: &#39Tôi là một ngư dân, từng lênh đênh theo gia đình đánh bắt tôm, cá ở đầm Sam, đầm Chuồn, cũng đã từng vật lộn với con chữ suốt những năm tháng sống lênh đênh trên sông nước, cho nên tôi hiểu cần phải làm gì cho bọn trẻ&#39. Anh quyết tâm, vợ anh cũng đồng lòng nhưng khổ nỗi cả xóm ai cũng nghèo, nhà cửa lụp xụp, rách nát cho nên chẳng ai thiết tha khi anh đề cập đến chuyện dựng lớp. Anh bàn với vợ dùng ngôi nhà tạm bợ của mình để làm phòng học. Anh chèo đò đi khắp nơi nhặt những mảnh ván, khúc gỗ… về miệt mài cưa, đục, đẽo thành bàn, bảng, còn ghế được tận dụng từ những viên đá, gốc cây… Sau này, thấy ở vùng đầm phá có người tự nguyện dạy xóa mù chữ cho trẻ em nghèo, Sở Giáo dục – Đào tạo tỉnh Thừa Thiên – Huế và Phòng Giáo dục huyện Phú Vang đã tặng sách, vở và 10 bộ bàn ghế cho lớp học của anh. Phòng học thì có nhưng học trò đến lớp &#39bữa đực, bữa cái&#39, anh phải đến từng nhà vận động những bạn nghề của mình cho con đến lớp. Rồi anh Hòa lại chạy đôn, chạy đáo mượn sách và dạy theo chương trình xóa mù chữ cấp tốc. Đêm đêm, mỗi thầy trò một cây đèn dầu và tiếng đọc bài cứ thế vang lên trong tiếng rì rào của sóng nước Tam Giang vỗ bờ. Khoảng một năm sau, lớp học đã kín chỗ, đi vào nền nếp. Lúc ấy, anh dạy một lần ba lớp, chen chúc nhau để học chung trong một căn phòng rộng chưa đầy 8 m2.

Nhưng rồi, khó khăn cứ bám riết lấy thầy trò ở xóm nghèo này khi cơn &#39đại hồng thủy&#39 năm 1999 đã cuốn trôi sạch bàn ghế, sách vở. Anh Hòa đã định giải tán lớp học, nhưng cứ nhìn vào đôi mắt ngơ ngác đến tội nghiệp của lũ học trò, anh lại không đành lòng. Anh Hòa lại chạy ngược, chạy xuôi để xin sách vở, bàn ghế cho các em tiếp tục đến lớp học. Đến năm 2000, Hội Cứu trợ trẻ em không cha mẹ đã hỗ trợ thầy và trò anh Hòa xây dựng được lớp học kiên cố trên nền đất của nhà anh bồi đắp nên với diện tích khoảng 35 m2. Và các nhà hảo tâm còn hỗ trợ thêm cho lớp học của anh một ít sách, vở và một số dụng cụ học tập cần thiết khác, cứ thế các em có điều kiện đến học quanh năm suốt tháng.

Người thầy giáo trên vùng đầm Sam này đã vất vả nhiều với bọn trẻ khi phải tìm cách giảng giải sao cho chúng dễ hiểu, để không nản chí mà bỏ lớp, rồi lại phải lo vật lộn với sông, đầm để nuôi sống gia đình. Anh Hòa bộc bạch: &#39Ngày trước, tôi được gia đình cho học hết lớp chín ở trường kiểu mẫu Huế. Sau khi xuất ngũ về địa phương, cũng tính đi học thêm nhưng chẳng thu xếp được, mãi đến 46 tuổi, tôi mới theo học lớp bổ túc văn hóa. Năm 2008, nhận bằng về, bọn trẻ cũng vui lắm, cứ đưa bằng tốt nghiệp cấp III của tui ra hít hà, hít hải như thể chúng chuẩn bị ăn một món gì ngon lắm&#39. Rồi anh lại chịu khó học thêm lớp nghiệp vụ sư phạm và được nhận chứng chỉ trong dịp hè năm nay.

Và những học trò chân đất

Mưa lất phất. Lớp học của thầy giáo Hòa trên vùng đầm Sam trở nên yên ắng hơn. Dường như cả thầy lẫn trò đều muốn tập trung để kết thúc giờ học sớm hơn mỗi khi mùa mưa bão về. Trên bục giảng, thầy giáo với bộ quần áo giản dị, nồng mùi sông nước đang say sưa giảng bài. Đám học trò gầy gò, ốm yếu. Em mặc quần đùi, áo cộc, em thì quần áo lấm lem, vá trước vá sau. Bọn trẻ đi chân đất đến lớp. Phần lớn các em là những đứa trẻ vạn đò nghèo sống ở Đập Góc và khu tái định cư xã Phú Mỹ, một vài em trong xã Phú An vì nghèo không có tiền đến trường cũng xin học ở lớp tình thương này. Ngoài cửa sổ, một vài phụ huynh thập thò xin thầy cho con về sớm để cùng bố mẹ đi đánh cá, đặt lừ, nò sáo trên đầm trong đêm. Quá hiểu hoàn cảnh của những đứa học trò vùng đầm phá, anh Hòa gật đầu. Hai đứa trẻ lặng lẽ theo mẹ ra về. Độ chừng năm giờ chiều, khi tiếng trống anh Hòa cất lên, bọn trẻ vội vã cắp sách, vở, chạy ù về nhà, đằng kia nhiều con đò (thuyền nhỏ) đang đợi chúng để bắt đầu cuộc mưu sinh cho đến sáng hôm sau mới trở về nhà. Bọn trẻ con ở lớp thầy Hòa rất dễ thương, lễ phép khi gặp người lớn. Như một nguyên tắc bất thành văn ở lớp học này, mùa nào tôm, cá ít thì các em đi học đều, mùa nào tôm, cá nhiều thì học trò đến lớp ít.

Chỉ dừng lại ở mức giúp các em biết đọc, biết viết, tính toán vài con số đơn giản, thế nhưng, lớp học của anh Hòa đã giúp bao thế hệ học trò ở vùng đầm Sam biết được con chữ. Anh dạy theo chương trình lớp ghép với khoảng 40 học sinh từ lớp 1 đến lớp 4. Mỗi năm bình quân chỉ có từ bốn đến năm em học hòa nhập tại Trường tiểu học Phú Mỹ II. Có năm đến mùa tựu trường anh &#39giả vờ&#39 đóng cửa lớp để phụ huynh đem con đến trường. Nhưng rồi, họ đến năn nỉ thầy dạy, anh nói cứng thì các chị dọa ngược lại rằng &#39thầy không dạy thì sẽ cho chúng nghỉ học&#39. Vậy là anh đành phải mở lớp. Chúng tôi hỏi chị Mận, mẹ của em Mỹ Anh đang đứng ngoài xin cho con về sớm: &#39Vì sao chị không cho cháu đến trường?&#39, chị thở dài thườn thượt nghe não lòng: &#39Bao nhiêu thứ phải lo, tiền sách vở, áo quần, giày dép, kể cả việc làm giấy khai sinh, nhà lại đông con, cho nên lo cho chúng không nổi. Hơn nữa học lớp thầy Hòa vừa không phải đóng tiền, lại xin về lúc nào cũng được. Tôi cũng hứa với cháu, cứ học ở đây đến khi nào gia đình bớt khó khăn thì cho học trường xã nhưng đã bao mùa tựu trường cũng đành thất hứa với con&#39. Rất nhiều đứa trẻ học xong lớp thầy Hòa lại tiếp tục di cư vào nam, ra bắc kiếm sống, cũng có đứa tiếp tục buông câu, giăng lưới theo nghề của gia đình. Hành trang chúng đem theo là &#39nhúm chữ&#39 đầu đời mà thầy Hòa tặng. Thầy giáo Phạm Kham, Hiệu trưởng Trường tiểu học Phú Mỹ II tâm sự với chúng tôi rằng, từ lớp học xóa mù này, học trò của thầy Hòa có em đang là sinh viên Đại học Bách khoa Đà Nẵng, có em đã trở thành giáo viên của Trường Phú Mỹ, và có em nằm trong đội tuyển học sinh giỏi của huyện…&#39.

Anh Hòa không chỉ là thầy của bọn trẻ mà còn chính là người thầy dạy chữ cho nhiều người lớn. Hằng ngày khi những người phụ nữ tất tả chạy chợ bán mớ tôm, con cá, lo cơm trưa cho chồng con xong, họ lại qua lớp học của thầy để &#39kiếm&#39 chữ. Anh Hòa bảo: &#39Tôi đã phải giãy nảy lên khi các chị cứ năn nỉ xin học để biết chữ và luôn miệng gọi mình một điều thầy, hai điều thầy. Vì các chị phần lớn không có chữ, lên vay tiền ở xã phải lăn dấu tay cả, thấy tội nghiệp quá, cho nên tôi phải dạy các chị vào buổi trưa…&#39. Hiện lớp học có 30 chị, người trẻ nhất cũng đã hai đứa con, người lớn nhất cũng đã có cháu nội, cháu ngoại. Thế nên, có nhiều gia đình đến ba thế hệ đều theo học chữ của thầy, nhưng buổi tối lại là bạn nghề, là những người láng giềng tốt bụng, hỗ trợ nhau trong làm ăn. Cũng như bao người dân ở đầm Sam, tối đến, anh Hòa cũng thả lừ, cũng nuôi tôm trên đầm phá. Con cái thầy đã lớn, đứa nhỏ cũng đã học cấp II nhưng nhà thầy lúc nào cũng có thêm năm, bảy miệng ăn hết năm này sang tháng nọ. Em thì gia cảnh quá khó khăn, mồ côi bố hoặc mẹ, cho nên thầy đem về nuôi, em thì bố mẹ đi làm dài ngày gởi con lại cho vợ chồng thầy để chúng theo cái chữ. Phó Chủ tịch UBND xã Phú An, Phan Minh Việt cho biết: &#39Gia đình thầy Hòa thuộc hộ khó khăn của xã. Hằng ngày, sau giờ dạy học, thầy phải làm nghề bắt tôm, cá trên đầm phá để kiếm sống. Chính quyền địa phương biết tấm lòng của thầy đối với con em vạn đò trong xã nhưng xã nghèo cho nên cũng không giúp gì được thầy&#39.

Chia tay thầy giáo Hòa khi cư dân vùng đầm phá í ới gọi nhau xuống đò, chúng tôi hỏi anh có ước mong gì, rất thật lòng anh bảo: &#39Bọn trẻ nơi đây học rất chăm, sáng dạ lắm, nhưng khổ nỗi cái nghèo khó cứ bủa vây khi bão, lụt triền miên nên đành nghỉ học theo cha mẹ lênh đênh sông nước&#39.

Theo Nhandan