Thứ bảy,  27/11/2021

Nâng cao chất lượng dịch vụ, hạn chế sự gia tăng dân số

LSO-Một trong 7 nhiệm vụ, giải pháp thực hiện công tác dân số giai đoạn 2000-2010 là mở rộng và phát triển hệ thống cung cấp dịch vụ kế hoạch hóa gia đình (KHHGĐ)/ chăm sóc sức khỏe sinh sản (SKSS) nhằm đáp ứng đầy đủ, kịp thời, an toàn và thuận tiện các phương tiện và dịch vụ KHHGĐ/chăm sóc SKSS có chất lượng, đa dạng hóa cho các nhóm đối tượng.Duy trì và mở rộng mạng lưới cung cấpLàm cộng tác viên (CTV) dân số đã nhiều năm, anh Dương Thanh Bình, xã Tân Tri, huyện Bắc Sơn đã quá quen với cái cảnh các chị đến gõ cửa “đòi” các phương tiện tránh thai (PTTT). Do có ý thức làm việc khoa học, biết dự trù số lượng PTTT cần thiết, nên trong các buổi giao ban hằng tháng tại xã, anh đã lấy đúng, lấy “đủ” bao cao su (BCS) và viên uống tránh thai, tất nhiên có một số lượng cần thiết BCS để “dự phòng những trường hợp cần thiết, đột xuất, ngoài kế hoạch”.Trong nhiều năm qua, với đội ngũ cán bộ chuyên trách dân số xã và mạng lưới CTV tại các...

LSO-Một trong 7 nhiệm vụ, giải pháp thực hiện công tác dân số giai đoạn 2000-2010 là mở rộng và phát triển hệ thống cung cấp dịch vụ kế hoạch hóa gia đình (KHHGĐ)/ chăm sóc sức khỏe sinh sản (SKSS) nhằm đáp ứng đầy đủ, kịp thời, an toàn và thuận tiện các phương tiện và dịch vụ KHHGĐ/chăm sóc SKSS có chất lượng, đa dạng hóa cho các nhóm đối tượng.
Duy trì và mở rộng mạng lưới cung cấp
Làm cộng tác viên (CTV) dân số đã nhiều năm, anh Dương Thanh Bình, xã Tân Tri, huyện Bắc Sơn đã quá quen với cái cảnh các chị đến gõ cửa “đòi” các phương tiện tránh thai (PTTT). Do có ý thức làm việc khoa học, biết dự trù số lượng PTTT cần thiết, nên trong các buổi giao ban hằng tháng tại xã, anh đã lấy đúng, lấy “đủ” bao cao su (BCS) và viên uống tránh thai, tất nhiên có một số lượng cần thiết BCS để “dự phòng những trường hợp cần thiết, đột xuất, ngoài kế hoạch”.
Trong nhiều năm qua, với đội ngũ cán bộ chuyên trách dân số xã và mạng lưới CTV tại các thôn bản, các dịch vụ cơ bản miễn phí về PTTT phi lâm sàng đã được đáp ứng một cách đầy đủ và ổn định. Các PTTT khác như dụng cụ tử cung (DCTC), thuốc tiêm tránh thai và que cấy tránh thai được cung ứng đầy đủ đến cơ sở, đảm bảo cho việc thực hiện các chiến dịch và nhu cầu thường xuyên của các đối tượng. Do cán bộ y tế huyện và một số xã có bác sĩ, có CSVC tốt đã được đào tạo chuyển giao kỹ thuật tiêm, cấy thuốc tránh thai theo tính chất “cầm tay chỉ việc” nên khả năng về kỹ thuật tuyến cơ sở đã được nâng lên.
Phát tờ rơi tuyên truyền về DS – KHHGĐ ở xã Cường Lợi, huyện Đình Lập Ảnh: Dương Nguyên
Trong 10 năm qua, công tác Dân số-KHHGĐ tỉnh Lạng Sơn thu được những kết quả rất quan trọng là nhờ việc cung ứng kịp thời các PTTT tại cơ sở. Trong vài năm trở lại đây, với công tác xã hội hóa, chúng ta đã tiến hành thực hiện BCS tiếp thị xã hội. Bán BCS có trợ giá đến rộng rãi các đối tượng sử dụng. Kênh phân phối được mở rộng, đối tượng được “hưởng lợi” đã nhiều hơn, đa dạng hơn. Những chiếc BCS mà ngành dân số cung cấp đã cùng với chương trình BCS của “kênh”can thiệp giảm hại trong phòng chống HIV/AIDS không những phục vụ cho công tác sinh đẻ có kế hoạch, mà còn góp phần hạn chế đến mức thấp nhất sự lây truyền của HIV/AIDS trên địa bàn tỉnh.
Nâng cao chất lượng của dịch vụ chăm sóc SKSS
Quyết định 136/2000/QĐ-TTg ngày 28/11/2000 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Chiến lược QG về chăm sóc sức khỏe sinh sản giai đoạn 2001-2010”đã mang lại cho công tác dân số vùng cao, vùng xa, vùng có mức sinh cao cơ hội mới để thực hiện giảm sinh một cách bền vững. Với các gói dịch vụ khác nhau như gói dịch vụ KHHGĐ, gói chống viêm nhiễm đường sinh sản và gần đây là việc thực hiện chương trình “Làm mẹ an toàn” giảm tử vong mẹ và tử vong sơ sinh, không những đảm bảo sức khỏe cho phụ nữ, mà hệ quả của nó có tác dụng trực tiếp đến thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch về dân số.
Trong 10 năm qua, Lạng Sơn đã nâng tỷ lệ đối tượng trong độ tuổi sinh đẻ sử dụng các BPTT an toàn từ trên 60% năm 2001 lên 84% năm 2010, trong đó có 73% áp dụng các BPTT hiện đại. Tỷ suất chết mẹ ở mức dưới 0,7%o trẻ đẻ sống; tỷ suất chết trẻ em dưới 1 tuổi ở mức dưới 25%o. Tỷ lệ tăng dân số bình quân năm giữa 2 đợt Tổng điều tra dân số là 0,4%/ năm (giai đoạn 1989-1999 là 1,44%, giai đoạn 1999-2009 là 0,4%). Quy mô gia đình nhỏ ít con, hạnh phúc được chấp nhận rộng rãi; số con trung bình của 1 phụ nữ giảm từ 2,27 con năm 2000 xuống còn 1,8 con năm 2010 và chúng ta đã đạt mức sinh thay thế.
Do sáp nhập Chi cục Dân số tỉnh vào ngành Y tế, nên mỗi sự tiến bộ của hệ thống y tế cơ sở có tác dụng nâng cao chất lượng chăm sóc SKSS/KHHGĐ. Đến nay, đã có 178/226 xã, đạt tỷ lệ 78,7% số xã thực hiện dịch vụ kỹ thuật đặt DCTC thường xuyên; có 105/226 xã, tỷ lệ 46,4% thực hiện dịch vụ nạo hút thai dưới 6 tuần. Các BV huyện được trang bị lồng ấp trẻ sơ sinh tại khoa sản đã mang lại niềm tin cho các sản phụ; và như vậy, họ vững tâm hơn khi thực hiện các chính sách pháp luật về dân số.

Tuy vậy, hệ thống cung cấp dịch vụ KHHGĐ ở cơ sở chưa vững chắc. Nòng cốt trong mạng lưới cung cấp các PTTT là các cộng tác viên dân số thôn bản; song đã quá lâu họ chỉ được hưởng mức 50 ngàn đồng/ tháng (đối với vùng khó khăn) và 40 ngàn đồng/ tháng đối với vùng thuận lợi), nên đội ngũ CTV đã bỏ việc hàng loạt, số còn lại công tác không nhiệt tình. Đây chính là “khâu yếu nhất” trong việc duy trì mạng lưới tuyên truyền và cung cấp dịch vụ KHHGĐ. Nếu chúng ta không “hành động” nhanh, sẽ “mất” đi một “mắt xích” quan trọng này và sẽ còn rất lâu mới khôi phục lại được.

Trần Kim