Thứ tư,  23/06/2021

Xóa đói, giảm nghèo, thành tựu nổi bật của Việt Nam

Là một nước nghèo, chịu hậu quả nặng nề của các cuộc chiến tranh giữ nước, nhưng sau hơn 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới, kiên trì với mục tiêu mà Đảng, Nhà nước ta đã đề ra: Tăng trưởng, phát triển gắn với tiến bộ và công bằng xã hội, Việt Nam đã đạt được những thành tựu nổi bật về xóa đói, giảm nghèo (XĐGN), được cộng đồng quốc tế ghi nhận như một điểm sáng giảm nghèo và thực hiện tốt các Mục tiêu Thiên niên kỷ.Trong suốt hơn một thập kỷ qua cùng với chiến lược phát triển kinh tế, Đảng, Nhà nước ta luôn quan tâm XĐGN, mục tiêu XĐGN đã được thể hiện rõ trong nhiều văn kiện của Đảng. Quán triệt các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, năm 1998, Chính phủ đã phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia về XĐGN giai đoạn 1998 - 2000. Tháng 9-2000, tham dự Hội nghị Thượng đỉnh các nguyên thủ quốc gia, nguyên Chủ tịch nước Trần Đức Lương đã ký Tuyên bố cam kết thực hiện các Mục tiêu Thiên niên kỷ, do Liên hợp quốc khởi xướng, trong đó có...

Là một nước nghèo, chịu hậu quả nặng nề của các cuộc chiến tranh giữ nước, nhưng sau hơn 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới, kiên trì với mục tiêu mà Đảng, Nhà nước ta đã đề ra: Tăng trưởng, phát triển gắn với tiến bộ và công bằng xã hội, Việt Nam đã đạt được những thành tựu nổi bật về xóa đói, giảm nghèo (XĐGN), được cộng đồng quốc tế ghi nhận như một điểm sáng giảm nghèo và thực hiện tốt các Mục tiêu Thiên niên kỷ.
Trong suốt hơn một thập kỷ qua cùng với chiến lược phát triển kinh tế, Đảng, Nhà nước ta luôn quan tâm XĐGN, mục tiêu XĐGN đã được thể hiện rõ trong nhiều văn kiện của Đảng. Quán triệt các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, năm 1998, Chính phủ đã phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia về XĐGN giai đoạn 1998 – 2000. Tháng 9-2000, tham dự Hội nghị Thượng đỉnh các nguyên thủ quốc gia, nguyên Chủ tịch nước Trần Đức Lương đã ký Tuyên bố cam kết thực hiện các Mục tiêu Thiên niên kỷ, do Liên hợp quốc khởi xướng, trong đó có mục tiêu giảm một nửa số người nghèo vào năm 2015. Với việc ký tuyên bố này, một lần nữa, Đảng, Nhà nước ta đã thể hiện quyết tâm mạnh mẽ trong cuộc chiến chống đói nghèo. Năm 2001 Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia XĐGN và Việc làm giai đoạn 2001 – 2005, đồng thời thông qua Chiến lược tăng trưởng và giảm nghèo, giai đoạn 2001 – 2010, trong đó xóa đói, giảm nghèo, an sinh xã hội được xác định là một hợp phần quan trọng của Chiến lược. Thực hiện các chương trình và chiến lược trên, từ Trung ương tới các địa phương đã hình thành bộ máy chuyên trách công tác XĐGN với ý chí và quyết tâm chính trị cao. Đối với các địa phương, hầu hết các tỉnh đã đưa chương trình, kế hoạch mục tiêu giảm nghèo và giải quyết việc làm 5 năm và hằng năm vào các Nghị quyết của Tỉnh ủy, HĐND và UBND. Từ tỉnh, huyện đến xã đã thành lập Ban chỉ đạo XĐGN và giải quyết việc làm có sự tham gia của các tổ chức hội, đoàn thể. Phân công các ban ngành, tổ chức đoàn thể và vận động các doanh nghiệp giúp đỡ các xã nghèo với những chỉ tiêu cụ thể, như: Hỗ trợ các xã đào tạo nâng cao trình độ cán bộ thôn bản; Hỗ trợ xóa nhà tạm cho hộ nghèo; đào tạo nghề và tạo việc làm cho con em hộ nghèo; xây dựng trường học, hỗ trợ khuyến nông…
Từ giảm nghèo về lương thực, thực phẩm (xóa đói), bảo đảm đủ ăn đủ mặc cho người dân, chính sách XĐGN từng bước tiến tới bảo đảm các dịch vụ xã hội cơ bản cho người nghèo, như: văn hóa, giáo dục, chăm sóc sức khỏe, nhà ở, đi lại. Ngoài Chương trình mục tiêu quốc gia XĐGN ban đầu với năm chính sách và bảy dự án hỗ trợ người nghèo về y tế, giáo dục, tín dụng, đất sản xuất, nhà ở, cơ sở hạ tầng, đào tạo cán bộ, hỗ trợ sản xuất phát triển ngành nghề, Chính phủ còn có Chương trình 135 hỗ trợ phát triển kinh tế – xã hội các xã đặc biệt khó khăn và Chương trình 134 hỗ trợ nhà ở, đất ở và đất sản xuất cho hộ nghèo. Đến nay, hệ thống chính sách giảm nghèo ngày càng được hoàn thiện theo hướng mở rộng, bao phủ hơn về đối tượng, bền vững hơn về chính sách. Trong quá trình tổ chức thực hiện các chương trình giảm nghèo giai đoạn 2006 – 2010, xuất phát từ nhu cầu thực tiễn, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP ngày 27-12-2008 về Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững ở các huyện có tỷ lệ hộ nghèo cao (Nghị quyết 30a). Tiếp đó Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 167/2008/QĐ-TTg ngày 12-12-2008 về Chính sách hỗ trợ hộ nghèo nhà ở và Quyết định 71 về Hỗ trợ các huyện nghèo đẩy mạnh xuất khẩu lao động góp phần giảm nghèo bền vững. Theo đó lao động thuộc các huyện nghèo và lao động người dân tộc được Chính phủ hỗ trợ toàn bộ chi phí ăn ở, đi lại, học văn hóa, học nghề, khám sức khỏe, lệ phí làm visa và hộ chiếu để đi làm việc ở nước ngoài.
Nhờ nhận khoán 4 ha đất trồng dứa nguyên liệu, gia đình chị Nguyễn Mỹ Thành ở xã Tân Lập 2, huyện Tân Phước (Tiền Giang) đã thoát nghèo thu nhập ổn định.
Kết quả, về chính sách tín dụng, trong 5 năm (2006 – 2010) đã có khoảng 6,2 triệu lượt hộ nghèo được vay vốn với mức vay bình quân 7- 8 triệu đồng/lượt/hộ. Triển khai 30.000 lớp tập huấn chuyển giao kỹ thuật; xây dựng 8.500 mô hình trình diễn và hội nghị đầu bờ với 3,7 triệu lượt người nghèo tham dự; 150.000 lao động nghèo được dạy nghề miễn phí, trong đó hơn 60% đã tìm được việc làm, tự tạo việc làm, góp phần tăng thu nhập để giảm nghèo. Về Chương trình 135 giai đoạn II, đến nay, các địa phương đã xây dựng được 8.237 công trình hạ tầng cơ sở, đã hoàn thành đưa vào sử dụng 5.465 công trình, trong đó có 858 công trình giao thông. Tính đến nay, Chương trình 134 đã hỗ trợ: 373.400 nhà ở cho hộ nghèo dân tộc thiểu số; 1.552 ha đất ở cho 71.713 hộ; 27.763 ha đất sản xuất cho 83.563 hộ. Thực hiện NQ30a, đến cuối tháng 10-2010, các huyện đã hoàn thành 77.311 căn nhà cho hộ nghèo, đạt tỷ lệ 100%; công tác xuất khẩu lao động được thực hiện tại 52 huyện của 18 tỉnh, đã có 6.600 lao động ở các huyện nghèo đi lao động ở nước ngoài, bước đầu có thu nhập ổn định; đã thực hiện hỗ trợ tiền giao khoán 247.589 ha rừng cho các hộ, cộng đồng dân cư quản lý; hỗ trợ giống cây trồng 4.790 ha rừng.
Thông qua việc thực hiện các Chương trình phát triển kinh tế – xã hội và thực hiện đồng bộ các chính sách, dự án của Chương trình giảm nghèo, tỷ lệ hộ nghèo cả nước đã giảm từ 22% (năm 2005) xuống còn 9,45% (năm 2010), hoàn thành kế hoạch trước một năm so với mục tiêu Chương trình và Nghị quyết Đại hội X của Đảng đề ra.
Đối với 62 huyện nghèo, sau hai năm thực hiện Nghị quyết 30a, tỷ lệ hộ nghèo trung bình đã giảm từ 47% (năm 2008) xuống còn khoảng 37% (vào cuối năm 2010), bình quân giảm 5%/năm, đạt mục tiêu giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống mức dưới 40% như Nghị quyết 30a đề ra.
Tuy tỷ lệ hộ nghèo giảm nhanh, nhưng kết quả giảm nghèo chưa bền vững, số hộ đã thoát nghèo nhưng mức thu nhập nằm sát chuẩn nghèo rất lớn, dẫn đến tỷ lệ hộ tái nghèo hằng năm so với tổng số hộ thoát nghèo còn cao; chênh lệch giàu – nghèo giữa các vùng, nhóm dân cư chưa được thu hẹp, nhất là ở những huyện, xã có tỷ lệ hộ nghèo cao.
Để giảm nghèo nhanh và bền vững, công tác giảm nghèo phải được triển khai một cách toàn diện, nhằm cải thiện mọi mặt đời sống của người nghèo, bao gồm: ăn, mặc, ở, học hành, chữa bệnh, nước sạch và vệ sinh môi trường, hưởng thụ văn hóa, tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản, đầu tư cải thiện hạ tầng kinh tế – xã hội ở các vùng đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Thứ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội Nguyễn Trọng Đàm cho biết, chính sách giảm nghèo sẽ được xây dựng theo hai nhóm: Nhóm chính sách chung tác động, hỗ trợ cho tất cả hộ nghèo, người nghèo trong cả nước; và nhóm các chính sách đặc thù áp dụng đối với hộ nghèo, người nghèo là đồng bào các dân tộc thiểu số sống ở những địa bàn khó khăn nhất, bao gồm: các huyện nghèo, xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn nhằm giảm nghèo nhanh, bền vững hơn đối với những vùng này so với cả nước.
Theo Nhandan