Thứ ba,  22/06/2021

Không ngừng vun đắp nền y tế cách mạng

Suốt những năm qua, vượt qua nhiều khó khăn thử thách, các thế hệ thầy thuốc nước ta không ngừng xây dựng, vun đắp cho nền y tế cách mạng. Hệ thống y tế từng bước được hoàn chỉnh từ trung ương xuống địa phương. Ở hầu hết các xã, phường, ngay cả những vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa, người dân đều có thể tiếp cận được dịch vụ y tế.Trong chặng đường phát triển hơn 65 năm qua, dù có nhiều khó khăn và thử thách, nhưng những thế hệ thầy thuốc luôn có mặt trên mọi miền đất nước. Bằng tinh thần lao động cật lực và tấm lòng yêu thương người bệnh, đội ngũ thầy thuốc Việt Nam phát huy truyền thống vẻ vang, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chăm sóc, bảo vệ sức khỏe nhân dân. Ngành y tế đã làm tốt công tác y tế dự phòng, phòng, chống thành công dịch bệnh cũng như không ngừng nghiên cứu, ứng dụng các kỹ thuật tiên tiến trong công tác khám, chữa bệnh. Điều đáng tự hào là trình độ chuyên môn kỹ thuật của ngành y tế ngày nay đã có những...

Suốt những năm qua, vượt qua nhiều khó khăn thử thách, các thế hệ thầy thuốc nước ta không ngừng xây dựng, vun đắp cho nền y tế cách mạng. Hệ thống y tế từng bước được hoàn chỉnh từ trung ương xuống địa phương. Ở hầu hết các xã, phường, ngay cả những vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa, người dân đều có thể tiếp cận được dịch vụ y tế.
Trong chặng đường phát triển hơn 65 năm qua, dù có nhiều khó khăn và thử thách, nhưng những thế hệ thầy thuốc luôn có mặt trên mọi miền đất nước. Bằng tinh thần lao động cật lực và tấm lòng yêu thương người bệnh, đội ngũ thầy thuốc Việt Nam phát huy truyền thống vẻ vang, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chăm sóc, bảo vệ sức khỏe nhân dân. Ngành y tế đã làm tốt công tác y tế dự phòng, phòng, chống thành công dịch bệnh cũng như không ngừng nghiên cứu, ứng dụng các kỹ thuật tiên tiến trong công tác khám, chữa bệnh. Điều đáng tự hào là trình độ chuyên môn kỹ thuật của ngành y tế ngày nay đã có những bước tiến vượt bậc. Nhiều tiến bộ về công nghệ y học của thế giới đã được ứng dụng và phát triển thành công ở Việt Nam. Vì thế, các chỉ tiêu về sức khỏe của nhân dân được nâng lên rõ rệt và cao hơn nhiều so với những nước có cùng trình độ phát triển và mức thu nhập bình quân đầu người. Chỉ số phát triển con người của Việt Nam không ngừng tăng lên trong suốt hơn hai thập kỷ qua. Trong hai năm 2009 và 2010, ngành y tế đều hoàn thành các mục tiêu, chỉ tiêu do Quốc hội và Chính phủ giao.
Mười năm gần đây, công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân tiến một bước dài trong việc phát triển mạng lưới, bao gồm hệ thống y tế hỗn hợp công tư; từng bước thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân; xã hội hóa công tác y tế, chăm sóc sức khỏe, nhất là với người nghèo và các đối tượng chính sách xã hội… Tuổi thọ trung bình tăng từ 65 tuổi (năm 1998) lên 72,8 (theo số liệu Tổng điều tra dân số tháng 4-2009); tỷ lệ chết trẻ em dưới một tuổi giảm từ 780/00 trẻ đẻ sống (năm 1985) xuống còn 150/00; tỷ lệ chết trẻ em dưới năm tuổi giảm từ 810/00 (năm 1985) xuống còn 25,50/00; 97% phụ nữ được cán bộ y tế chăm sóc khi sinh con; tỷ suất chết mẹ giảm đáng kể. Theo đánh giá của Cơ quan phát triển Liên hợp quốc (UNDP), nước ta đứng vào hàng các nước có thành tựu nổi bật về y tế so với tổng sản phẩm quốc dân. Sáu bệnh truyền nhiễm ở trẻ em trước đây đứng đầu danh sách các bệnh có tỷ lệ mắc và tỷ lệ tử vong cao, nay nhờ việc tiêm chủng rộng rãi chúng ta đã thanh toán được bệnh bại liệt, khống chế được bệnh uốn ván sơ sinh, ho gà, bạch hầu. Công tác phòng, chống dịch bệnh đã được tiến hành chủ động. Nhiều bệnh dịch nguy hiểm đã được khống chế và đẩy lùi, như dịch tả, dịch hạch, sốt rét,… Đặc biệt, chúng ta đã khống chế thành công dịch SARS, dịch cúm A(H5N1), dịch cúm A(H1N1), những loại dịch bệnh cực kỳ nguy hiểm đến tính mạng và sức khỏe con người.
Đến nay cả nước đã có 13.439 cơ sở khám, chữa bệnh công, 75 khu điều dưỡng phục hồi chức năng, hơn 1.000 phòng khám đa khoa và nhà hộ sinh khu vực. Chất lượng dịch vụ khám, chữa bệnh không ngừng được nâng cao. Các bệnh viện đều được trang bị các loại máy móc hiện đại dùng trong chẩn đoán và điều trị. Các công nghệ, kỹ thuật mũi nhọn của y học thế giới đang từng bước được ứng dụng ở nước ta như ghép tạng, mổ nội soi, can thiệp tim mạch, mổ tách trẻ song sinh, thụ tinh nhân tạo… Bên cạnh các cơ sở y tế nhà nước, hệ thống y tế tư nhân đã bắt đầu hình thành, bao gồm 19.895 cơ sở hành nghề y, 14.048 cơ sở hành nghề dược, 7.015 cơ sở hành nghề y học cổ truyền, nhiều bệnh viện tư có vốn đầu tư nước ngoài, góp phần làm giảm bớt sự quá tải ở các bệnh viện nhà nước. Việc kết hợp y học cổ truyền với y học hiện đại cũng đạt được nhiều thành tựu lớn. Kế thừa và phát huy hiệu quả nhiều bài thuốc, phương thuốc dân gian; thành lập được hai viện và 48 bệnh viện y học cổ truyền, hơn 300 khoa y học cổ truyền trong các bệnh viện đa khoa, 8.000 cơ sở hành nghề tư nhân về y học cổ truyền. Các cơ sở này khám và chữa bệnh bằng y học cổ truyền cho khoảng 30% số người bệnh.

Hội chẩn điều trị cho người bệnh tại khoa dị ứng miễn dịch lâm sàng bệnh viện Bạch Mai.

Nước ta cũng có hệ thống các trường đại học y, dược phân bổ trên cả nước. Mỗi năm có khoảng hơn 3.000 bác sĩ, dược sĩ tốt nghiệp đại học ra trường; nhiều trường đào tạo kỹ thuật viên trung học y, dược đã được thành lập và trong vòng mấy năm trở lại đây đã đào tạo ở trong nước cán bộ có trình độ cử nhân, chuyên khoa cấp một và chuyên khoa cấp hai, bảo vệ luận án thạc sĩ và tiến sĩ. Đến nay đã có 47 nghìn cán bộ y tế có trình độ đại học và hơn một nghìn cán bộ sau đại học.
Mạng lưới y tế cơ sở được xây dựng rộng khắp cả nước từ Trung ương đến các tỉnh, huyện, xã; từ đồng bằng, trung du, các vùng xa xôi hẻo lánh đến biên giới, hải đảo và đang mở rộng khắp thôn, xóm, bản, làng với 11.544 trạm y tế xã, y tế cơ quan, xí nghiệp. Nhờ mạng lưới đó, nước ta đã thực hiện được nhiều mục tiêu của Tổ chức y tế Thế giới đề ra. Với quan điểm, đầu tư cho lĩnh vực y tế là đầu tư cho phát triển, Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách tăng cường đầu tư cho y tế, nhất là cho y tế tuyến huyện và tuyến tỉnh ở những vùng khó khăn. Từ năm 2008 Chính phủ đã sử dụng vốn trái phiếu Chính phủ và các nguồn vốn hợp pháp khác để đầu tư xây dựng 645 bệnh viện đa khoa tuyến huyện và bệnh viện đa khoa khu vực liên huyện; đầu tư xây dựng, cải tạo, nâng cấp hơn 220 bệnh viện chuyên khoa lao, tâm thần, ung bướu, chuyên khoa nhi và một số bệnh viện đa khoa tỉnh thuộc vùng miền núi, khó khăn để đáp ứng nhu cầu khám bệnh, chữa bệnh cho nhân dân.
Tuy đạt được nhiều kết quả, nhưng nhiệm vụ chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân của ngành y tế giai đoạn tới còn rất nặng nề. Điều đó đòi hỏi mỗi cán bộ, thầy thuốc không ngừng đoàn kết, sáng tạo, nỗ lực hết mình nhằm tiếp tục hoàn thành nhiệm vụ cao quý mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó.

Theo Nhandan