Thứ năm,  02/12/2021

Các cấp công đoàn quan tâm, bảo vệ quyền lợi của lao động nữ

LSO-Tại điều 55, Hiến pháp 1992 quy định rõ: “Lao động là quyền và nghĩa vụ của công dân”, bao gồm cả nam và nữ. Từ năm 2007, tại điều 13, Luật bình đẳng giới (BĐG) cũng quy định rõ các nguyên tắc BĐG trong lĩnh vực lao động nhằm bảo đảm cơ hội bình đẳng cho nam và nữ, thu hẹp khoảng cách giữa 2 giới trong lĩnh vực này. Tuy nhiên do sự khác biệt về giới tính, liên quan đến chức năng sinh sản nên thực tế lao động nữ vẫn còn gặp nhiều khó khăn cần được hỗ trợ bằng các quy định mang tính chất đặc thù. Nhận thức rõ điều này, trong những năm qua công đoàn các cấp luôn quan tâm, tạo điều kiện để nữ CNVCLĐ yên tâm lao động, học tập, nâng cao trình độ, đóng góp cho sự phát triển của địa phương.Nữ công nhân Công ty Cổ phần gạch ngói Hợp Thành - Ảnh: Phan CầuTỉnh ta hiện có khoảng 26 nghìn CNVCLĐ là nữ. Chị em có mặt ở hầu hết các lĩnh vực kinh tế-xã hội (bưu chính viễn thông, sản xuất nông lâm nghiệp, công thương,...

LSO-Tại điều 55, Hiến pháp 1992 quy định rõ: “Lao động là quyền và nghĩa vụ của công dân”, bao gồm cả nam và nữ. Từ năm 2007, tại điều 13, Luật bình đẳng giới (BĐG) cũng quy định rõ các nguyên tắc BĐG trong lĩnh vực lao động nhằm bảo đảm cơ hội bình đẳng cho nam và nữ, thu hẹp khoảng cách giữa 2 giới trong lĩnh vực này.
Tuy nhiên do sự khác biệt về giới tính, liên quan đến chức năng sinh sản nên thực tế lao động nữ vẫn còn gặp nhiều khó khăn cần được hỗ trợ bằng các quy định mang tính chất đặc thù. Nhận thức rõ điều này, trong những năm qua công đoàn các cấp luôn quan tâm, tạo điều kiện để nữ CNVCLĐ yên tâm lao động, học tập, nâng cao trình độ, đóng góp cho sự phát triển của địa phương.
Nữ công nhân Công ty Cổ phần gạch ngói Hợp Thành – Ảnh: Phan Cầu
Tỉnh ta hiện có khoảng 26 nghìn CNVCLĐ là nữ. Chị em có mặt ở hầu hết các lĩnh vực kinh tế-xã hội (bưu chính viễn thông, sản xuất nông lâm nghiệp, công thương, giao thông vận tải…), đặc biệt trong ngành giáo dục–đào tạo và y tế, lao động nữ (LĐN) chiếm từ 58 đến 75 % tổng số lao động toàn ngành. Để thực hiện mục tiêu BĐG trong lao động, các cấp công đoàn đã đẩy mạnh công tác tuyên truyền, học tập các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, Nhà nước, công đoàn và sự cần thiết của việc học tập, nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn nghiệp vụ, kỹ năng nghề nghiệp. Và đây được xác định là một bước quan trọng để thực hiện BĐG trong việc làm, đảm bảo thu nhập cũng như cơ hội được học tập, đào tạo đối với LĐN. Cùng với đó, các cấp công đoàn luôn quan tâm củng cố kiện toàn ban nữ công. 100% công đoàn các cấp đều thành lập ban nữ công hoặc cử một ủy viên của ban chấp hành phụ trách công tác nữ công, đại diện bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho nữ CNVCLĐ, đồng thời đẩy mạnh hoạt động của Ban vì sự tiến bộ của phụ nữ các cấp. Công tác bồi dưỡng, nâng cao năng lực cán bộ nữ công được các cấp công đoàn quan tâm thực hiện, thông qua các hình thức phong phú như: mở lớp tập huấn, phát tài liệu tuyên truyền định kỳ, tổ chức nói chuyện theo chuyên đề về giới tính, gia đình, phương pháp chăm sóc sức khỏe, nuôi dạy con khoa học, phát triển kinh tế gia đình… Song song với việc tuyên truyền, các cấp công đoàn còn tăng cường phối hợp với các ban, ngành, đoàn thể kiểm tra việc thực hiện chế độ chính sách đối với LĐN như: tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hộ lao động và đặc biệt là các chính sách, chế độ riêng đối với phụ nữ khi tham gia lao động. Hàng năm kiểm tra được từ 6 đến 8 đơn vị và tổng hợp được nhiều ý kiến, đề nghị các cấp có thẩm quyền và người sử dụng lao động để giải quyết kịp thời, thỏa đáng. Nhờ đó, tiền lương và thu nhập của LĐN luôn được đảm bảo, mức sống và điều kiện lao động được cải thiện. Một số doanh nghiệp đã đầu tư xây dựng, trang bị công nghệ mới, từng bước khắc phục các yếu tố độc hại, đảm bảo an toàn trong lao động sản xuất.
Có thể nói, nhờ có sự chỉ đạo sát sao của các ban, ngành địa phương, sự quan tâm của công đoàn các cấp, trong thời gian qua, vấn đề bình đẳng giới ở tỉnh ta được chú trọng và đảm bảo tương đối tốt. Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn một số nữ CNVCLĐ thiếu việc làm hoặc việc làm không ổn định (ở các doanh nghiệp thuộc ngành nông, lâm nghiệp, xây dựng cơ bản, công nghiệp…). Số ít chị em phải làm việc trong môi trường bị ô nhiễm, phương tiện trang bị phòng hộ cá nhân thiếu và kém chất lượng. Điều kiện sinh hoạt của nữ CNVCLĐ công tác ở vùng xa, vùng cao, các doanh nghiệp tư nhân còn nhiều khó khăn về nhà ở, phương tiện đi lại, việc chăm lo học hành cho con trẻ, thiếu nơi sinh hoạt, vui chơi giải trí… Tình trạng vi phạm pháp luật còn diễn ra, nhất là ở các doanh nghiệp ngoài nhà nước. Qua kiểm tra tại 37 doanh nghiệp vẫn còn 864/5.092 CNVCLĐ chưa được đóng bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội hoặc đóng không đúng theo mức lương hiện tại, ảnh hưởng đến quyền lợi của người lao động, trong đó có LĐN.

Thực tế trên cho thấy, các quy định pháp luật về lao động được ban hành đã phát huy tính tích cực, tạo hành lang pháp lý đảm bảo quyền và nghĩa vụ lao động của công dân, đặc biệt là LĐN. Song vẫn còn tồn tại một số khó khăn hạn chế cần có sự quan tâm, hỗ trợ của các ban, ngành chức năng để các quy định của pháp luật về lao động đối với nữ khi đi vào cuộc sống thực sự mang lại hiệu quả và tính nhân văn như xuất phát điểm của nó, góp phần hỗ trợ phụ nữ làm mẹ an toàn, đảm bảo sự phát triển toàn diện, hài hòa của trẻ em.

Ngọc Hiếu