Thứ năm,  02/12/2021

Công tác khám, chữa bệnh: Hiệu quả của việc "phân luồng" bảo hiểm y tế hợp lý

LSO-Thống kê của ngành y tế Lạng Sơn cho biết, bước vào những tháng đầu năm 2011, toàn tỉnh đã có trên 80% bệnh viện thực hiện đầy đủ các kỹ thuật theo phân tuyến kỹ thuật của Bộ Y tế. Công tác khám chữa bệnh (KCB) tiếp tục được nâng cao về chất lượng…Cán bộ Trạm Y tế xã Tân Thành (Cao Lộc) tư vấn cho người dân về công tác phòng các loại bệnhNâng cao trách nhiệm của y tế cơ sởTrong tổng số 1.202.700 lượt người đến khám bệnh tại 3 tuyến, thì tuyến xã đã là 671.298 lượt người, chiếm 55,8%; trong số 99.643 ca điều trị nội trú thì tuyến xã chiếm tỷ lệ 11,7% và trong 47.000 ca điều trị ngoại trú, tuyến xã chiếm tỷ lệ 46%. Tất cả các tỷ lệ này đều cao hơn cùng kỳ năm 2009. Sự so sánh này phản ánh 2 vấn đề: một mặt có số lượng không nhỏ người tham gia bảo hiểm y tế (BHYT) được “phân luồng” về KCB tại y tế tuyến xã; mặt khác, năng lực của y tế tuyến xã cũng đã được nâng cao về cả nhân lực, thiết...

LSO-Thống kê của ngành y tế Lạng Sơn cho biết, bước vào những tháng đầu năm 2011, toàn tỉnh đã có trên 80% bệnh viện thực hiện đầy đủ các kỹ thuật theo phân tuyến kỹ thuật của Bộ Y tế. Công tác khám chữa bệnh (KCB) tiếp tục được nâng cao về chất lượng…
Cán bộ Trạm Y tế xã Tân Thành (Cao Lộc) tư vấn cho người dân về công tác phòng các loại bệnh
Nâng cao trách nhiệm của y tế cơ sở
Trong tổng số 1.202.700 lượt người đến khám bệnh tại 3 tuyến, thì tuyến xã đã là 671.298 lượt người, chiếm 55,8%; trong số 99.643 ca điều trị nội trú thì tuyến xã chiếm tỷ lệ 11,7% và trong 47.000 ca điều trị ngoại trú, tuyến xã chiếm tỷ lệ 46%. Tất cả các tỷ lệ này đều cao hơn cùng kỳ năm 2009. Sự so sánh này phản ánh 2 vấn đề: một mặt có số lượng không nhỏ người tham gia bảo hiểm y tế (BHYT) được “phân luồng” về KCB tại y tế tuyến xã; mặt khác, năng lực của y tế tuyến xã cũng đã được nâng cao về cả nhân lực, thiết bị y tế theo quy định của tuyến kỹ thuật. Cuối năm 2010, toàn tỉnh đã có 207/226 xã đạt chuẩn QG về y tế xã (tỷ lệ 91,5%), cùng với các giải pháp như tăng cường đội ngũ cán bộ từ cấp tỉnh về huyện, cấp huyện về xã theo Đề án 1816… đã phần nào tạo sự yên tâm cho người tham gia BHYT đăng ký KCB ban đầu tại tuyến cơ sở. Trao đổi với chúng tôi về vấn đề này, Giám đốc Trung tâm Y tế Lộc Bình cho biết, nếu trước đây, tư tưởng chuyển tuyến luôn thường trực trong đội ngũ cán bộ y tế xã, thì từ khi Trung tâm có chủ trương cho đội ngũ y bác sĩ tăng cường có thời hạn về tuyến xã, nhất là các xã vùng cao, vùng xa, thì trách nhiệm điều trị của tuyến kỹ thuật đã cao hơn. Tuy vậy, trong số trên 670.000 lượt người đến khám tại tuyến xã, thì tỷ lệ phải điều trị chỉ ở mức 5%, trong đó chỉ có 1,7% điều trị nội trú. Vẫn biết rằng phải thực hiện theo phân tuyến kỹ thuật, song tỷ lệ trên cũng cho thấy tư tưởng người dân vẫn chủ yếu dựa vào… thuốc chữa bệnh; nó cũng phản ánh những vấn đề nan giải của công tác y tế dự phòng ở cơ sở.
Tăng cường đầu tư cho tuyến huyện
Với vai trò là tuyến trên cơ sở, trực tiếp xử lý những ca bệnh theo phân tuyến, giảm tải cho tuyến tỉnh và trung ương; vai trò của các bệnh viện huyện thực sự quan trọng; sự đầu tư cho tuyến huyện và phòng khám ĐKKV càng có ý nghĩa hơn khi các huyện ở xa trung tâm tỉnh và hạ tầng giao thông còn yếu kém. Trong năm 2010 đã có thêm 82 kỹ thuật mới, trong đó lâm sàng có 49 kỹ thuật, cận lâm sàng 33 kỹ thuật được triển khai tại các BV tuyến huyện. Đó là kết quả của 3 năm thực hiện đầu tư, nâng cấp mở rộng các bệnh viện huyện và phòng khám ĐKKV. Điều này không chỉ dừng lại ở vấn đề kinh tế là nếu đưa nhanh các BV vào sử dụng, tác dụng của nguồn vốn trái phiếu Chính phủ sẽ nhanh được phát huy; quan trọng hơn là tuyến huyện đã đảm nhiệm được nhiệm vụ của mình theo phân tuyến kỹ thuật của Bộ Y tế. Tình trạng “đùn đẩy” bệnh nhân lên tuyến trên đã được hạn chế, tiết kiệm được rất nhiều thời gian và tiền bạc của bệnh nhân và gia đình họ. Chất lượng KCB được nâng cao hơn nhờ hệ thống thiết bị y tế được nâng cấp theo hướng hiện đại cùng với trình độ, tinh thần trách nhiệm của đội ngũ cán bộ y tế được nâng lên theo Chỉ thị số 06/2007 của Bộ Y tế. Chỉ đơn cử, khi các lồng ấp sơ sinh được trang bị cho tuyến huyện và khả năng sử dụng của đội ngũ y bác sĩ, điều dưỡng viên khoa sản đã thuần thục, thì tình trạng trẻ thiếu cân, non tháng… không phải chuyển lên tuyến tỉnh, mà được thực hiện ngay tại tuyến huyện.

Đến nay, tỷ lệ dân số tham gia BHYT ở tỉnh ta đã đạt gần 80%. Điều đó có nghĩa là mỗi bước vươn lên của ngành y tế có tác dụng thiết thực để chính sách BHYT nhanh chóng đi vào cuộc sống; rằng tỉnh ta có thể hoàn thành BHYT toàn dân vào năm 2014. Tuy nhiên, ngành y tế và ngành BHXH cần giải quyết tốt mối quan hệ công tác, tức là giữa người “giữ tiền” và người “tiêu tiền” trên cơ sở quyền lợi của người tham gia BHYT. Trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng không được “cắt bớt” tiêu chuẩn của người bệnh tham gia BHYT, nhất là trong điều kiện giá thuốc chữa bệnh ngày một tăng cao như hiện nay. Vả lại tỷ lệ 1,62 lượt người khám bệnh/năm đừng nên coi là thành tích của ngành y tế. Bởi vì nó chứng tỏ, công tác y tế dự phòng của tỉnh ta còn nhiều vấn đề cần hoàn thiện.

Minh Hồng