Thứ hai,  24/01/2022

Ô nhiễm làng nghề – chuyện chưa bao giờ cũ

Đến cuối năm 2010, Việt Nam có khoảng 2.100 làng nghề, trong đó có 300 làng nghề truyền thống, tạo việc làm cho hơn bốn triệu lao động với thu nhập cao hơn nhiều so với làm nông nghiệp. Không thể phủ nhận sự phát triển mạnh mẽ của các làng nghề đã mang lại lợi ích to lớn về kinh tế, xã hội, tuy nhiên, sự phát triển ồ ạt, thiếu quy hoạch, mang tính tự phát, khiến cho vấn đề ô nhiễm môi trường trở thành một trong những vấn đề nóng tại các làng nghề hiện nay.Tùy tiện xả thảiTheo báo cáo tình hình thực hiện chính sách, pháp luật về môi trường tại các khu kinh tế, khu công nghiệp và làng nghề của Ủy ban Thường vụ Quốc hội từ cuối năm 2010 đến đầu năm 2011 cho thấy chất thải từ các làng nghề đa phần không nhiều nhưng việc thải bỏ không đúng cách và tùy tiện (thường không được xử lý) dẫn đến mất mỹ quan, văn hóa và gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng.Các làng nghề chủ yếu tập trung tại vùng nông thôn, tập trung đến 80% dân số...

Đến cuối năm 2010, Việt Nam có khoảng 2.100 làng nghề, trong đó có 300 làng nghề truyền thống, tạo việc làm cho hơn bốn triệu lao động với thu nhập cao hơn nhiều so với làm nông nghiệp. Không thể phủ nhận sự phát triển mạnh mẽ của các làng nghề đã mang lại lợi ích to lớn về kinh tế, xã hội, tuy nhiên, sự phát triển ồ ạt, thiếu quy hoạch, mang tính tự phát, khiến cho vấn đề ô nhiễm môi trường trở thành một trong những vấn đề nóng tại các làng nghề hiện nay.

Tùy tiện xả thải

Theo báo cáo tình hình thực hiện chính sách, pháp luật về môi trường tại các khu kinh tế, khu công nghiệp và làng nghề của Ủy ban Thường vụ Quốc hội từ cuối năm 2010 đến đầu năm 2011 cho thấy chất thải từ các làng nghề đa phần không nhiều nhưng việc thải bỏ không đúng cách và tùy tiện (thường không được xử lý) dẫn đến mất mỹ quan, văn hóa và gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng.

Các làng nghề chủ yếu tập trung tại vùng nông thôn, tập trung đến 80% dân số cả nước. Nhận thức của người dân nơi đây còn hạn chế nhiều mặt, đặc biệt là vấn đề bảo vệ môi trường; sản xuất xen lẫn sinh hoạt, công nghệ sản xuất hầu hết thủ công lạc hậu. Kết quả khảo sát 52 làng nghề, theo đề án kiểm soát ô nhiễm môi trường làng nghề năm 2006 của Cục bảo vệ môi trường cho thấy, 46% làng nghề bị ô nhiễm nặng, 27% bị ô nhiễm vừa, 27% ô nhiễm nhẹ. Chất lượng môi trường tại hầu hết khu vực sản xuất trong các làng nghề đều không đạt chuẩn.

Ô nhiễm tại các làng nghề ảnh hưởng rất lớn tới những người trực tiếp tham gia sản xuất và những người sống tại làng nghề đó. Các nguy cơ mà người lao động tiếp xúc khá cao: 95% người lao động có nguy cơ tiếp xúc với khói bụi, 85,9% tiếp xúc với nhiệt, 59,6% tiếp xúc với hóa chất.

Làng trống da Lâm Yên (Đại Lộc, Quảng Nam), hằng năm bán ra thị trường từ 1.500 đến 2.000 sản phẩm các loại, tuy là nghề phụ nhưng đã mang lại cho người dân làm nghề nơi đây khoản thu nhập thường xuyên, ổn định. Đổi lại, hằng ngày, người dân nơi đây đang phải sống và hít thở bầu không khí hôi thối, khó chịu của khoảng 20kg da thừa, lông, mỡ thải ra (chiếm 5% tổng khối lượng da dùng cho sản xuất trống hằng ngày).

Hay ở làng rèn Cầu Vực (Hương Thủy, Thừa Thiên Huế) lượng chất thải rắn thải ra hằng ngày khoảng 260 kg gây mất mỹ quan làng xã. Tại các làng nghề sử dụng nhiên liệu dột và các nguyên vật liệu hóa chất trong dây chuyền công nghề sản xuất tạo khí thải, khói thải và bụi. Điển hình như tại làng nghề tái chế Đa Hội (Bắc Ninh) đã thải ra môi trường gần 2.500 tấn bụi; 81 tấn khi CO2, gần 3000 tấn khí SO2 và 2.359 tấn NO2 mỗi lần.

Làng nghề bún Phú Đô, cứ trong 10.200 tấn sản phẩm mỗi năm đã thải các chất ô nhiễm 76,9 tấn COD; 53,14 tấn BOD5; 9,38 tấn SS gây ô nhiễm môi trường nước nghiêm trọng. Những con số khiến ai nghe qua không khỏi giật mình.

Những vấn đề nổi cộm trên không chỉ làm ô nhiễm nghiêm trọng không khí, nguồn nước, mất mỹ quan làm suy thoái môi trường nghiêm trọng mà còn tác động xấu tới sức khỏe người dân của làng nghề và cộng đồng dân cư lân cận, đe dọa tới sự phát triển bền vững các làng nghề Việt Nam.

Bên cạnh những hệ lụy đó, ô nhiễm môi trường làng nghề còn ảnh hưởng đến các vấn đề kinh tế-xã hội như làm tăng chi phí khám chữa bệnh, giảm năng suất lao động, mất ngày công lao động do nghỉ ốm đau… ảnh hưởng tới năng suất sản xuất nông nghiệp, giảm sức thu hút du lịch, giảm lượng khách du lịch dẫn đến thiệt hại về kinh tế…

Đâu là nguyên nhân?

Một điều dễ dàng nhận thấy trong công tác bảo vệ môi trường tại các làng nghề chính là sự chồng chéo, không rõ ràng về vai trò, trách nhiệm của việc bảo vệ môi trường làng nghề giữa các Bộ, ngành, địa phương. Điều này, dẫn đến một thực tế khác là công tác phối hợp giữa các đơn vị chức năng có liên quan ở cả Trung ương và địa phương còn rất hạn chế. Cụ thể, Bộ Tài nguyên và Môi trường giúp Chính phủ thống nhất quản lý và thực hiện chức năng quản lý nhà nước trên phạm vi cả nước, xây dựng cơ chế chính sách, chỉ đạo và hướng dẫn các Bộ, ngành và địa phương thực hiện. Bộ NN và PTNT, Bộ Công thương quản lý các cụm, điểm công nghiệp ở cấp huyện và các doanh nghiệp công nghiệp…

Mặc dù, Nhà nước cũng đã có chủ trương triển khai mạnh mẽ công tác xã hội hóa bảo vệ môi trường làng nghề, tuyên truyền, huy động sự tham gia tích cực của chính bản thân người dân, người sản xuất. Nhiều hương ước ra đời, nhiều tổ chức tự nguyện hoạt động bảo vệ môi trường với sự đóng góp tài chính của từng hộ sản xuất đã hoạt động hiệu quả. Tuy nhiên, việc tổ chức vận động và kêu gọi bảo vệ môi trường chỉ nhận được sự ủng hộ của từng nhóm nhỏ, hộ gia đình nhỏ lẻ nên các vấn đề ô nhiễm môi trường vẫn xảy ra nghiêm trọng.

Trong khi đó, ở cấp địa phương, vai trò của các cấp chính quyền sở tại trong quản lý môi trường làng nghề còn mờ nhạt; việc đầu tư nhân lực, tài chính chưa mang tính chiều sâu, lâu dài. Điều này, dẫn đến việc đầu tư cho công tác bảo vệ môi trường, xử lý chất thải làng nghề chưa được chú trọng, nhiều địa phương chưa xây dựng, triển khai kế hoạch giải quyết tình trạng ô nhiễm môi trường tại làng nghề; cán bộ bảo vệ môi trường tại cấp xã phường, thị trấn chủ yếu là do cán bộ địa chính kiêm nhiệm.

Theo quy định, đối với vấn đề môi trường tại các làng nghề, trách nhiệm chủ yếu thuộc về UBND các cấp. Tuy nhiên, hầu hết tất cả các văn bản mới dừng lại ở mức độ quy định trách nhiệm cho UBND cấp tỉnh. Sự kết hợp giữa các cơ quan quản lý môi trường các cấp cũng còn nhiều hạn chế, một số địa phương đã ban hành những văn bản liên quan đến môi trường làng nghề song cũng chỉ là các quy định có tính chất lồng ghép.

Giải pháp nào để xử lý triệt để tình trạng ô nhiễm môi trường làng nghề trong khi công tác quản lý, bảo vệ môi trường làng nghề hiện nay vẫn còn rất nhiều bất cập và chưa đáp ứng yêu cầu?

Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 là văn bản quy phạm pháp luật cao nhất trong lĩnh vực môi trường, trong đó có Điều 38 về bảo vệ môi trường làng nghề và các điều khoản khác liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp vấn đề này. Tuy nhiên, đến thời điểm này chưa có một văn bản hướng dẫn thực hiện các nội dung về bảo vệ môi trường làng nghề.

Từ những thực tế nêu, Ủy ban TVQH kiến nghị Chính phủ tăng cường chỉ đạo thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp với sự tham gia tích cực của các Bộ, ngành và địa phương để thúc đẩy công tác bảo vệ môi trường làng nghề. Trước mắt bổ sung, hoàn thiện các văn bản hướng dẫn nhằm cụ thể hoá các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường phù hợp đối với các đối tượng sản xuất, kinh doanh, dịch vụ tại khu vực làng nghề.

Cần ban hành Thông tư quy định về bảo vệ môi trường làng nghề, hướng dẫn công tác thanh tra, kiểm tra bảo vệ môi trường làng nghề, xây dựng các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường đối với chất thải của sản xuất làng nghề, cam kết bảo vệ môi trường làng nghề cũng như sớm hoàn thiện Đề án tổng thể xử lý ô nhiễm môi trường làng nghề

Về lâu dài, cần nghiêm túc và đánh giá một một cách khách quan hiệu quả KT – XH so với những tác động trước mắt và lâu dài của mỗi làng, mỗi nghề đến an sinh, xã hội và môi trường. Liệu mỗi làng một nghề có làm thay đổi diện mạo của nông thôn một cách tích cực thực sự hay không, hay chỉ là một định hướng góp phần làm phá vỡ cấu trúc bền vững của nông thôn Việt Nam bằng cách đưa công nghiệp nhỏ, lẻ, lạc hậu và không được kiểm soát vào nông thôn mà hậu quả của nó ở khía cạnh môi trường thì không thể khắc phục được.

Theo Nhandan