Thứ bảy,  25/09/2021

Ðể vốn cho vay của ngân hàng đến với hộ nông dân

Được Ngân hàng chính sách xã hội cho vay 30 triệu đồng, gia đình anh Nguyễn Thành Thức ở xã Ngọc Hội, huyện Chiêm Hóa (Tuyên Quang) đầu tư máy móc, mở rộng nhà xướng, chuyên gia công máy cơ khí nông nghiệp; hiện cơ sở của anh thường xuyên có mười công nhân làm việc với mức lương 3,5 triệu đồng/người/tháng. Kỳ II: Khai thác hiệu quả thị trường về nông nghiệp, nông dân, nông thôn (Tiếp theo và hết) (*)Trong chiến lược phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn ở nước ta theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, kinh tế hộ nông dân luôn luôn là đơn vị kinh tế tự chủ, là lực lượng sản xuất chủ yếu. Trước yêu cầu mở rộng mạng lưới hoạt động kinh doanh, các ngân hàng thương mại đang có xu hướng khai thác thị trường về nông nghiệp, nông dân, nông thôn với hướng đầu tư tín dụng, được xác định trước hết là: Tập trung đối với những ngành kinh tế mũi nhọn của địa phương, những sản phẩm có tính cạnh tranh cao, được thị trường chấp nhận.Để thực hiện được những mục tiêu...

Được Ngân hàng chính sách xã hội cho vay 30 triệu đồng, gia đình anh Nguyễn Thành Thức ở xã Ngọc Hội, huyện Chiêm Hóa (Tuyên Quang) đầu tư máy móc, mở rộng nhà xướng, chuyên gia công máy cơ khí nông nghiệp; hiện cơ sở của anh thường xuyên có mười công nhân làm việc với mức lương 3,5 triệu đồng/người/tháng.

Kỳ II: Khai thác hiệu quả thị trường về nông nghiệp, nông dân, nông thôn
(Tiếp theo và hết) (*)

Trong chiến lược phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn ở nước ta theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, kinh tế hộ nông dân luôn luôn là đơn vị kinh tế tự chủ, là lực lượng sản xuất chủ yếu. Trước yêu cầu mở rộng mạng lưới hoạt động kinh doanh, các ngân hàng thương mại đang có xu hướng khai thác thị trường về nông nghiệp, nông dân, nông thôn với hướng đầu tư tín dụng, được xác định trước hết là: Tập trung đối với những ngành kinh tế mũi nhọn của địa phương, những sản phẩm có tính cạnh tranh cao, được thị trường chấp nhận.

Để thực hiện được những mục tiêu trên, trong những năm tới các ngân hàng sẽ bám sát vào quy hoạch của từng vùng để chủ động mở rộng đầu tư vốn, xây dựng các vùng chuyên canh có tỷ suất hàng hóa cao, phát triển mở rộng ngành nghề, tạo công ăn việc làm cho người lao động với bốn giải pháp cụ thể:

Một là, vốn tín dụng ngân hàng cho vay phải hướng vào các hộ dân sản xuất hàng hóa, kinh doanh tổng hợp, chủ yếu để mua giống cây trồng, vật nuôi, các loại vật tư chủ động chuyển đổi cơ cấu mùa vụ

như mở rộng diện tích lúa lai, lúa thuần có năng suất cao, kết hợp với các biện pháp thâm canh tổng hợp, áp dụng công nghệ sinh học để đưa năng suất lúa từng vụ tăng cao và ổn định. Tu sửa các kênh mương nội đồng, phục vụ thâm canh lúa ở vùng đồng bằng sông Hồng, đồng bằng sông Cửu Long, cây dài ngày, cây ăn quả ở các tỉnh vùng Tây Nguyên, các tỉnh trung du và miền núi phía bắc như cây chè khoảng 140.000 ha, cà-phê 500.000 ha, cao-su 700.000 ha… Giúp mở rộng diện tích nuôi thả tôm ở vùng ven biển, đẩy mạnh khai thác thủy sản, chăm sóc tốt diện tích tôm đã nuôi và cho vay các chi phí phát sinh về phòng trừ dịch bệnh đối với đàn gia súc, gia cầm; các chi phí bảo vệ phòng cháy, chữa cháy rừng trong mùa khô. Đặc biệt là mở rộng cho vay phát triển kinh tế trang trại đối với các hộ có quy mô sản xuất hàng hóa lớn, thu hút thêm nhiều lao động có việc làm ở nông thôn, hội đủ các tiêu chí theo quy định của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; đồng thời mở rộng cho vay phát triển ngành nghề với nhiều mặt hàng xuất khẩu như mây tre đan, hàng thủ công mỹ nghệ và các mặt hàng tiêu dùng thiết yếu khác. Coi trọng đầu tư cho các hợp tác xã làm dịch vụ cho kinh tế hộ nông dân.

Cần tăng thêm nguồn vốn đầu tư của Nhà nước cho lĩnh vực nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Trước mắt, Chính phủ cần dành một phần kinh phí cùng với vốn của các ngân hàng cho vay để hỗ trợ nông dân vùng đồng bằng sông Cửu Long phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn, chuyển giao công nghệ chế biến bảo quản lúa gạo để xây kho dự trữ lương thực. Đối với Ngân hàng Nhà nước, khuyến khích các tổ chức tín dụng mở rộng thị trường về nông thôn, hỗ trợ nguồn vốn cho vay đối với các tổ chức tín dụng (trừ Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở) thông qua cơ chế giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc. Vì đầu tư vào nông nghiệp càng lớn thì tỷ lệ dự trữ bắt buộc sẽ giảm theo.

Hai là, cần tiếp tục duy trì cả hai hình thức cho vay: cán bộ ngân hàng phải gần gũi, gắn bó với tâm tư tình cảm của dân, am hiểu cuộc sống của họ để tư vấn giúp họ lập phương án, dự án sản xuất, kinh doanh, kế hoạch vay vốn để họ nhanh chóng có cơ hội tiếp cận kinh tế thị trường. Mặt khác, ngân hàng có điều kiện mở rộng cho vay đối với kinh tế hộ, đối với tổ vay vốn (TVV). Mô hình này tỏ ra rất hiệu quả, cán bộ trong tổ phải thường xuyên tiếp cận với những hộ nông dân, giúp họ vượt qua khó khăn để làm kinh tế. Cần chú ý cải tiến thủ tục cho vay theo hướng đơn giản, không phiền hà cho khách hàng. Từ thực tiễn hoạt động chúng tôi cho rằng tùy theo từng địa phương cần nhân rộng mô hình &#39Tổ vay vốn và tiết kiệm&#39 để thực hiện xã hội hóa hoạt động ngân hàng, làm ủy thác cho ngân hàng và tổ này phải thêm nhiệm vụ huy động vốn tại địa phương, đồng thời cũng cần mở rộng đối tượng tham gia tổ vay vốn để giúp nhau làm kinh tế không những chỉ có hộ nông dân mà còn có hộ gia đình, cá nhân trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở tại khu vực nông thôn, các hộ sản xuất hàng hóa và hộ cận nghèo nếu họ có nguyện vọng được tham gia. Thành lập tổ vay vốn để sản xuất, kinh doanh theo nhóm sản phẩm hoặc cùng ngành nghề; tiếp tục mở rộng đối tượng cho vay đồng thời tăng cường kiểm tra, giám sát khoản vay, chống các biểu hiện tiêu cực để nâng cao chất lượng tín dụng. Tổ chức triển khai quy trình nghiệp vụ liên quan đến hoạt động cho vay qua tổ nhóm, bảo đảm các hội viên đều nhận biết và am hiểu rõ về mục đích, ý nghĩa và trách nhiệm của mỗi cá nhân trong hoạt động cho vay qua tổ nhóm, gắn cho vay mức vốn không có bảo đảm tài sản theo Nghị định 41 CP/NĐ của Chính phủ.

Để khai thác tiềm năng của mỗi vùng và tăng nhanh nguồn vốn đáp ứng nhu cầu vốn của mỗi hộ dân và các DN. Ngoài mạng lưới hoạt động hiện có, phấn đấu mỗi năm trên địa bàn cả nước mở thêm từ 500 đến 1.000 điểm giao dịch bao gồm các bàn tiết kiệm, phòng giao dịch để huy động vốn và cho vay trên địa bàn nông thôn, các tổ chức tín dụng chủ yếu là các ngân thương mại cổ phần, và Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ngân hàng Chính sách Xã hội, các quỹ tín dụng nhân dân cơ sở và nếu như doanh số hoạt động bình quân ở mỗi điểm giao dịch là 30 tỷ đồng thì 1.000 điểm giao dịch sẽ có là 30.000 tỷ đồng tăng thêm mỗi năm. Để thực hiện được ý tưởng trên cần thực hiện chính sách luân chuyển cán bộ, mạnh dạn đưa cán bộ trẻ có trình độ, năng lực về nông thôn và có chính sách đãi ngộ thỏa đáng.

Ba là, cán bộ ngân hàng phải chủ động giúp đỡ hộ vay vốn khi sản xuất gặp khó khăn, cùng bàn biện pháp tháo gỡ. Vốn vay phải tập trung đầu tư cho các hộ có nhu cầu kinh doanh như thâm canh mở rộng diện tích, xây dựng vườn, ao, chuồng, mở rộng ngành nghề, tạo công ăn việc làm cho người lao động ngay trên địa bàn. Việc khoanh nợ, giãn nợ, kéo dài kỳ hạn trả nợ, miễn giảm lãi vay là quyền của các tổ chức tín dụng vấn đề này các ngân hàng cơ sở phải xử lý kịp thời không nên để kéo dài làm ảnh hưởng đến SXKD của họ. TVV cần bồi dưỡng nghiệp vụ cho các tổ trưởng, những việc làm trên là cơ sở để ngân hàng mở rộng cho vay hộ nông dân qua tổ, nhóm, đáp ứng đủ nhu cầu vốn cho vay của ngân hàng, cần phối hợp giữa các ban, ngành, đoàn thể chính quyền địa phương cho vay qua tổ, nhóm thuộc các tổ chức xã hội, trong công tác cho vay nhất là áp dụng tiến bộ kỹ thuật trong nông nghiệp, lồng ghép tín dụng ngân hàng với các chương trình khuyến nông, khuyến ngư… của địa phương. Tổng kết thực tiễn để rút ra những mặt được và chưa được, từ đó có biện pháp chấn chỉnh, bổ sung kịp thời.

Bốn là, cùng với vốn cho vay của Ngân hàng Chính sách Xã hội và các Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở, vốn cho vay của ngân hàng nông nghiệp và các ngân hàng cổ phần phải tập trung vào phát triển kinh tế – xã hội ở các vùng nông thôn: đối với vùng đồng bằng xây dựng các chợ nông thôn, hình thành các khu trung tâm thương mại dịch vụ mua sắm trên địa bàn mỗi xã để gắn giữa sản xuất với trao đổi hàng hóa là cơ sở để phát triển thị trường nội địa, đối với miền núi để thực hiện việc lồng ghép có hiệu quả của Chương trình 135 (giai đoạn 2) cho các chương trình, dự án đầu tư cho các huyện nghèo, như các công trình xây dựng cơ bản về cơ sở hạ tầng, đường giao thông đến trung tâm các xã miền núi. Cho vay các khoản chi phí về trồng, chăm sóc tu bổ và cải tạo rừng đối với các hộ được giao đất, giao rừng.

Gắn với việc xây dựng thí điểm đề án về xây dựng nông thôn mới ở các địa phương, khuyến khích các nhà doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, nông dân, nông thôn, tạo ra nhiều sản phẩm nông nghiệp có giá trị, tạo việc làm và tăng thu nhập cho các vùng nông thôn. Thực hiện Nghị quyết 80 của Chính phủ về ký hợp đồng tiêu thụ nông sản cho nông dân, phải thực hiện được mối liên kết bốn nhà giữa nhà doanh nghiệp, nhà nông, nhà khoa học và còn phải thêm &#39nhà&#39 ngân hàng nữa để đóng vai trò cầu nối cho nông dân trong việc sản xuất và tiêu thụ nông sản. Đồng thời, để kinh tế nông nghiệp, nông dân, nông thôn phát triển ổn định, vững chắc là cơ sở để phát triển các ngành sản xuất khác, Chính phủ cần có chính sách trợ giá nông sản cho nông dân để động viên khuyến khích họ bỏ vốn đầu tư, làm thế nào để hộ trồng lúa ít nhất phải có lãi 30%, và các ngành chức năng có liên quan cần quan tâm giải quyết vướng mắc cho các hộ nông dân, như đẩy nhanh tiến độ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng ruộng đất, bổ sung thêm nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng đường giao thông đối với các huyện miền núi để phục vụ việc chăm sóc, khoanh nuôi và bảo vệ rừng… Những vấn đề đặt ra trên đây, nếu giải quyết được nó là cơ sở để mở rộng đầu tư cho vay vốn của ngân hàng.

————————————

(*) Xem Báo Nhân Dân số ra ngày 24-5-2011.

Theo Nhandan