Thứ tư,  22/09/2021

Văn Lãng đẩy nhanh tiến trình nghiên cứu, ứng dụng khoa học – công nghệ vào sản xuất

LSO-Là một huyện miền núi biên giới có hệ thống cửa khẩu khá phát triển song phần lớn người dân sinh sống phụ thuộc vào sản xuất nông nghiệp, vì vậy, nhiều năm qua, các cấp, ngành chức năng huyện Văn Lãng luôn quan tâm phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng, nâng cao đời sống bà con sinh sống ở khu vực nông thôn. Đặc biệt, từ khi thực hiện Chỉ thị 63-CT/TW, ngày 28/02/2001 của Bộ Chính trị (chỉ thị 63) về đẩy nhanh nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ (KHCN) phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn, diện mạo nông thôn Văn Lãng đã có những chuyển biến đáng ghi nhận. Công nhân điện lực Văn Lãng phát triển mạng lưới điện phục vụ sản xuất - Ảnh: Hoàng HuyĐể thực hiện hiệu quả Chỉ thị 63, Ban Thường vụ Huyện uỷ Văn Lãng đã triển khai học tập đến các chi, đảng bộ trực thuộc, các phòng chuyên môn, đoàn thể, lãnh đạo UBND các xã, thị trấn trên địa bàn huyện và xây dựng chương trình hành động để chỉ đạo. Hội đồng nhân dân huyện ra...

LSO-Là một huyện miền núi biên giới có hệ thống cửa khẩu khá phát triển song phần lớn người dân sinh sống phụ thuộc vào sản xuất nông nghiệp, vì vậy, nhiều năm qua, các cấp, ngành chức năng huyện Văn Lãng luôn quan tâm phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng, nâng cao đời sống bà con sinh sống ở khu vực nông thôn.
Đặc biệt, từ khi thực hiện Chỉ thị 63-CT/TW, ngày 28/02/2001 của Bộ Chính trị (chỉ thị 63) về đẩy nhanh nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ (KHCN) phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn, diện mạo nông thôn Văn Lãng đã có những chuyển biến đáng ghi nhận.
Công nhân điện lực Văn Lãng phát triển mạng lưới điện phục vụ sản xuất – Ảnh: Hoàng Huy
Để thực hiện hiệu quả Chỉ thị 63, Ban Thường vụ Huyện uỷ Văn Lãng đã triển khai học tập đến các chi, đảng bộ trực thuộc, các phòng chuyên môn, đoàn thể, lãnh đạo UBND các xã, thị trấn trên địa bàn huyện và xây dựng chương trình hành động để chỉ đạo. Hội đồng nhân dân huyện ra các nghị quyết chuyên đề về phát triển giao thông nông thôn; nghị quyết về thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế. UBND huyện đã cụ thể hoá chương trình hành động của huyện uỷ, nghị quyết của HĐND để triển khai hàng năm và giao cho các ngành chức năng của huyện phối hợp với cơ sở tổ chức thực hiện. Đồng thời huyện thành lập hội đồng khoa học công nghệ cấp huyện do một phó chủ tịch UBND huyện làm chủ tịch hội đồng. Hàng năm, hội đồng khoa học huyện xây dựng kế hoạch, xác định nhiệm vụ cụ thể về triển khai công tác hoạt động KHCN, nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trên địa bàn huyện; tổ chức sơ tuyển các đề tài, dự án khoa học cấp huyện để trình Hội đồng Khoa học và Công nghệ tỉnh thẩm định, phê duyệt. Đến năm 2010, toàn huyện đã triển khai 5 đề tài nghiên cứu khoa học cấp huyện với tổng kinh phí 270,4 triệu đồng, đặc biệt là đã nghiên cứu xây dựng bản đồ nông hoá làm cơ sở khoa học cho việc xác định cơ cấu cây trồng thích hợp của huyện.
Trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn, các ngành chức năng của huyện đã tổ chức tập huấn chuyển giao khoa học kỹ thuật cho 718 lớp với 26.761 lượt người tham gia; hỗ trợ dạy nghề, tạo việc làm tại chỗ cho 5.636 lượt lao động nông thôn; tập huấn cán bộ xã và cộng đồng cho 5.032 lượt người tham dự. Nhờ vậy, diện tích gieo trồng giống ngô lai chiếm xấp xỉ 100% tổng diện tích, năng suất, sản lượng đều tăng mạnh. Trong chăn nuôi, nhiều hộ dân đã mạnh dạn mở rộng quy mô đầu tư vốn vào chăn nuôi theo hướng hàng hoá, nâng cao năng suất, chất lượng đàn lợn và gia cầm. Một số hộ đã áp dụng khoa học kỹ thuật vào trong chăn nuôi như: thụ tinh nhân tạo cho bò sinh sản để nâng cao số lượng, tầm vóc góp phần phát triển chăn nuôi bò sinh sản trên địa bàn huyện. Tỷ lệ cơ giới hóa trong sản xuất nông nghiệp của huyện cũng ngày một tăng cao. Tổng số máy nông nghiệp (máy cày bừa, máy tuốt lúa, máy bơm nước, máy xay xát, máy quạt thóc…) hiện đã tăng hơn 5 lần so với năm 2001 (đạt trên 4.300 chiếc). Các chương trình chuyển giao công nghệ trong lĩnh vực công nghiệp được triển khai đồng bộ cùng với nhiều chương trình phát triển kinh tế – xã hội khác đã thúc đẩy nhanh khu vực kinh tế công nghiệp nông thôn. Đến nay, tổng giá trị sản xuất công nghiệp đã tăng hơn 8 lần so với năm 2001. Thông qua các chương trình phát triển giao thông, mười năm qua, hệ thống đường giao thông nông thôn trên địa bàn huyện được đầu tư, nâng cấp đáng kể, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội nói chung và tạo điều kiện thuận lợi để đầu tư, ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất. Hiện nay, Văn Lãng có tới 17/20 xã, thị trấn có đường ô tô đi lại được 4 mùa.
Có thể khẳng định rằng, trong những năm qua, các chương trình nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật được triển khai đồng thời cùng với các chương trình mục tiêu quốc gia, chính sách dân tộc về phát triển kinh tế – xã hội của huyện đã làm thay đổi nhanh bộ mặt kinh tế xã hội khu vực nông thôn. Thông qua các chương trình khuyến nông, khuyến công, đào tạo nghề cho lao động nông thôn đã giúp nhân dân thay đổi căn bản cách nghĩ, cách làm trong sản xuất nông nghiệp, mạnh dạn áp dụng nhiều tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất. Nhiều hộ nghèo đã thay đổi cách làm ăn cộng với hỗ trợ của nhà nước tự tạo việc làm tại chỗ góp phần nâng cao thu nhập vươn lên thoát nghèo. Đây cũng là điều kiện thuận lợi cho huyện trong việc thực hiện tốt bảo đảm trật tự an ninh trên địa bàn.

Tuy vậy, theo đánh giá của UBND huyện, số lượng đề tài nghiên cứu khoa học của huyện được thực hiện còn hạn chế, chưa đáp ứng được nhu cầu sản xuất, chưa mang tính chiến lược của địa phương, chưa tạo ra sản phẩm hàng hoá lớn. Mô hình ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất có hiệu quả nhưng việc nhân rộng mô hình để trở thành thường xuyên lại rất hiếm hoi. Trong thời gian tới, bên cạnh việc tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền về Chỉ thị 63-CT/TW của Bộ Chính trị đến cấp uỷ đảng, chính quyền, các doanh nghiệp và toàn thể xã hội, Văn Lãng chủ trương chú trọng đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ, sử dụng có hiệu quả cán bộ khoa học công nghệ, huy động lực lượng cán bộ khoa học kỹ thuật có trình độ khoa học tham gia hoạt động nghiên cứu khoa học; tạo môi trường thuận lợi để phát huy sáng kiến cải tiến kỹ thuật của các lực lượng trực tiếp sản xuất trong xã hội như nông dân, công nhân.

Hoàng Thái