Thứ ba,  16/08/2022

Ðiện lực Thanh Hóa với nông thôn miền núi

Công nhân Công ty Điện lực sửa chữa, nâng cấp lưới điện nông thôn. Nhận rõ vai trò tiên phong đưa điện đi trước một bước, đội ngũ cán bộ công nhân gần 1.500 người của Công ty Điện lực Thanh Hóa đã xác định làm được gì và sẽ tiếp tục làm gì trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới.Niềm vui phủ kín lưới điện toàn tỉnhBằng những cố gắng hết sức mình cùng với sự chỉ đạo, giúp đỡ của Tập đoàn Điện lực Việt Nam và Tổng công ty Điện lực miền bắc; sự chỉ đạo, động viên của cấp ủy, chính quyền địa phương, Điện lực Thanh Hóa đã hoàn thành mục tiêu đưa điện lưới quốc gia về tất cả 27/27 huyện, thị xã, trong đó có 11 huyện miền núi. Điện cũng đã về với 583/585 xã; 857.891 hộ trong đó có 788.440 hộ nông thôn.Với mạng lưới đã có, năm nay Điện lực Thanh Hóa cung ứng cho các yêu cầu sản xuất sinh hoạt hơn 1,1 tỷ kW giờ điện thương phẩm, tăng hơn 18% so với năm trước. Niềm vui từ ánh...


Công nhân Công ty Điện lực sửa chữa, nâng cấp lưới điện nông thôn.

Nhận rõ vai trò tiên phong đưa điện đi trước một bước, đội ngũ cán bộ công nhân gần 1.500 người của Công ty Điện lực Thanh Hóa đã xác định làm được gì và sẽ tiếp tục làm gì trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới.

Niềm vui phủ kín lưới điện toàn tỉnh

Bằng những cố gắng hết sức mình cùng với sự chỉ đạo, giúp đỡ của Tập đoàn Điện lực Việt Nam và Tổng công ty Điện lực miền bắc; sự chỉ đạo, động viên của cấp ủy, chính quyền địa phương, Điện lực Thanh Hóa đã hoàn thành mục tiêu đưa điện lưới quốc gia về tất cả 27/27 huyện, thị xã, trong đó có 11 huyện miền núi. Điện cũng đã về với 583/585 xã; 857.891 hộ trong đó có 788.440 hộ nông thôn.

Với mạng lưới đã có, năm nay Điện lực Thanh Hóa cung ứng cho các yêu cầu sản xuất sinh hoạt hơn 1,1 tỷ kW giờ điện thương phẩm, tăng hơn 18% so với năm trước. Niềm vui từ ánh điện tỏa sáng khắp đường làng, ngõ xóm làm cho câu dân ca xưa của xứ Thanh “… Ăn cơm bằng đèn, đi cấy sáng trăng…” mãi mãi lùi về dĩ vãng. Thanh Hóa đất rộng người đông (diện tích hơn 11.000 km2, số dân hơn 3,4 triệu người), việc phủ kín lưới điện trên địa bàn toàn tỉnh là điều trước đây chỉ có trong mơ. Chúng tôi đã đi thăm nhiều huyện nghèo, xã nghèo trong tỉnh, ở đâu cũng được nghe người dân khen ngợi đội quân trang phục áo quần mầu đỏ gạch ngày đêm lầm lũi lắp trạm điện dựng cột, kéo dây qua đồng chiêm trũng, qua rừng sâu, núi cao đưa ánh sáng của Đảng, của chủ nghĩa xã hội về với người dân. Điện đã xua đi cảnh tối tăm, giúp dân xóa đói, giảm nghèo, nhiều hộ gia đình, nhiều làng nghề giàu lên nhờ điện.

Sự thật ấy được ghi nhận ở các xã đồng bằng ven biển, như xã Quảng Nham, huyện Quảng Xương, ở cửa Lạch Mom. Ở đây, nhiều hộ đầu tư hàng trăm triệu đồng làm nhà máy cấp đông bảo quản hàng hải sản xuất khẩu, làm đá cây cung cấp cho hơn 240 tàu đánh cá. Hoặc xã Hải Bình, huyện Tĩnh Gia bên cửa Lạch Bạng, nơi chuyên làm muối, chế biến thủy sản, nghề tiểu thủ công nghiệp đã coi điện như một nguồn năng lượng sống, một cơ may cho việc làm ăn phát đạt. Trước đây thuyền về bến, con cá, con mực phải bán vội, nay nhiều cơ sở, nhà máy chế biến hải sản xuất khẩu ra đời, đó là các công ty TNHH Hồng Phát, Minh Hải. Người phụ trách điện của xã cho biết, một tháng Hải Bình tiêu thụ 600.000 kW giờ điện, có nghĩa bằng ba lần điện tiêu thụ ở một huyện miền núi. Ở huyện Nga Sơn, người dân nhận rõ điện không chỉ phục vụ tốt đời sống, sản xuất nông nghiệp, mà còn đáp ứng yêu cầu phát triển công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp. Nhà máy dệt chiếu của Công ty TNHH Chiến Nga, xã Nga Thủy thường xuyên có 50 máy dệt chiếu hoạt động, giải quyết việc làm cho 80 lao động địa phương.

Lên miền núi, càng cảm nhận rõ hơn, ở đâu có điện, nhất là ở những thị trấn huyện, thì ở đó đời sống văn hóa và cảnh làm ăn trở nên vui vẻ, sống động. Ban đêm đi qua một số huyện miền núi như Thạch Thành, Cẩm Thủy… nhiều người ngỡ rằng mình đang ở thành phố, bởi ánh sáng điện, kể cả ánh điện mầu, tỏa ra từ những cửa hàng kinh doanh, dịch vụ nối tiếp nhau bên hành lang đường Hồ Chí Minh. Rời TP Thanh Hóa theo quốc lộ 47, đi hơn 200 km, một nửa chặng đường cuối là dốc núi quanh co, chúng tôi lên cửa khẩu Na Mèo, huyện Quan Sơn. Cửa khẩu này chưa phải là một thị trấn, mà chỉ là một bản của người Thái, giáp với tỉnh Hủa Phăn nước bạn Lào, vậy mà cư dân ở đây ngày càng đông đúc, làm ăn sầm uất. Bà con các dân tộc người Việt, người Lào qua lại cửa khẩu họp chợ, mua bán hàng nông lâm sản, hàng tạp hóa. Những chuyến xe chở quặng, chở ngô, dừng đỗ làm thủ tục xuất nhập cảnh trong ánh điện sáng trưng ở trạm biên phòng. Tôi hỏi anh lái xe chở hàng gì, đến đâu? Anh cho biết là chở ngô sang bán cho cơ sở chế biến gần đó, một ngày cơ sở này sấy ngô tươi sang khô, bình quân 100 tấn. Vào thăm gia đình vợ chồng anh Thánh, chị Thêu, cả hai người đều là dân tộc Thái. Nhờ có điện, anh chị đã mở cửa hàng bán đồ điện dân dụng, xưởng chuyên sản xuất tăm tre nan. Chị Thêu nói, bây giờ người dân tộc thiểu số ở trong những bản xa cũng rất thích trong nhà có ti-vi, quạt máy lắm. Điện đã làm cho cuộc sống thay đổi khác xưa.

Nỗi lo gánh nặng đầu tư

Đầu tư công sức tiền của để xây dựng mạng lưới điện cho các thành phố, thị xã, khu kinh tế và các huyện đồng bằng ven biển, tuy gặp không ít khó khăn trở ngại, nhưng đưa điện lên vùng sâu, vùng xa, nhất là những huyện, những xã giáp với nước bạn Lào hoặc giáp với các tỉnh Hòa Bình, Sơn La thì chuyện khó khăn vất vả bội phần. Làm một đường dây chưa đầy 10 km ở huyện Mường Lát, những người thợ điện phải vất vả gùi từng can nước, một bao xi-măng chia đôi cho hai người vác đi nửa ngày đường lên đồi, xuống dốc mới đến được vị trí đổ móng cột. Một đường điện dài 2 km từ Bản Hao đến xã Sơn Lư, huyện Quan Sơn phải mất nhiều ngày phát tuyến, kéo dây giữa rừng rậm, bên vực sâu, vốn đầu tư tới 500 triệu đồng chỉ để cấp điện cho một bản với năm hộ dân. Một công trình điện cho xã Bát Mót, huyện Thường Xuân mới được đóng điện vào dịp Tết vừa qua, ngành điện đã đầu tư 15 tỷ đồng xây bốn trạm biến áp, kéo 46 km đường dây hạ thế đưa điện về cho bốn bản, cấp cho 368 hộ dân, tính ra Nhà nước phải chi cho mỗi hộ 60 triệu đồng. Từ năm 2005 đến nay, ngành điện đầu tư cho 11 huyện miền núi với số tiền 92 tỷ đồng, làm 35 dự án, trong đó xây dựng 199 km đường dây trung áp, 156 trạm biến áp hạ thế.

Theo Giám đốc Công ty Điện lực Thanh Hóa Trịnh Xuân Như, nếu vì mục đích kinh doanh, thì việc đầu tư lưới điện cho miền núi càng lớn, càng chịu lỗ to. Đầu tư cho điện miền núi là để thực hiện chính sách xã hội, nâng cao đời sống dân sinh cho đồng bào các dân tộc. Với ý nghĩa đó, Điện lực Thanh Hóa đã tiếp nhận, quản lý toàn bộ hệ thống điện nông thôn, riêng miền núi, nhận bán lẻ điện đến từng hộ, dù hộ đó ở xa xôi hẻo lánh, dù số tiền bán điện không đủ trả lương cho người đi thu tiền điện. Đã thế, đồng bào dân tộc lại rất tiết kiệm, chỉ dùng điện bình quân mỗi tháng khoảng 20 kW giờ. Đi nửa ngày đến nhà dân thu tiền điện, họ chưa có tiền, xin trả tiền điện bằng ngô hoặc trứng gà.

Xây dựng, tiếp nhận quản lý lưới điện nông thôn miền núi được coi là một thành tích lớn của ngành điện, được đánh giá là ngành điện đã làm tốt nhiệm vụ chính trị xã hội trước Đảng, trước dân. Tuy nhiên, tiếp nhận rồi, lấy đâu ra vốn để cải tạo, nâng cấp toàn bộ hệ thống điện hạ thế? Hầu hết lưới điện ở các xã trước đây do dân đóng góp xây dựng, nay đã cũ nát rệu rã, nơi thì cột đỡ bằng tre, bằng gỗ tạp, nơi thì đường dây bằng nhôm, bằng kẽm, dây không vỏ bọc, đường điện phân phối hạ thế phần nhiều chỉ có hai dây một pha, luôn gây hiện tượng giảm áp, còn đồng hồ đo đếm điện thì đủ kiểu, năm cha ba mẹ, nay kẹt mai chết, gây không ít tổn thất điện năng. Điện lực Thanh Hóa, trực tiếp là điện lực các huyện, thị xã (trước đây gọi là chi nhánh điện), đã cố gắng nhiều để thay đồng hồ, cột điện, đường dây, sửa chữa trạm biến áp, nhưng chỉ là những sửa chữa vặt, hư đâu chữa đó.

Thành tựu và niềm tự hào của Điện lực Thanh Hóa là đã phủ kín mạng lưới điện trên địa bàn, hoàn thành việc tiếp nhận mạng lưới điện nông thôn, liên tục vận động các địa phương, các cơ quan, các doanh nghiệp thực hành tiết kiệm, nhờ đó đã góp phần tích cực phát triển kinh tế – xã hội trong tỉnh, góp phần tăng trưởng GDP lên hơn 13% trong năm 2010, chắc chắn năm nay vẫn duy trì được mức đó. Mặt khác nỗi lo gánh nặng đầu tư của ngành điện ngày càng nặng hơn. Nếu muốn cải tạo, nâng cấp mạng lưới hạ thế với ba pha bốn dây để bảo đảm chất lượng cung ứng điện, thì mỗi xã cần được đầu tư năm tỷ đồng, toàn tỉnh cần khoảng 1.800 tỷ đồng. Tiền tìm ở đâu ra? Ngành điện đang hoạt động trong cơ chế lỗ, mấy năm nay Nhà nước dồn vốn đầu tư cho nguồn và lưới điện chuyển tải, còn hệ thống điện nông thôn hầu như để cho các công ty ngành điện tìm cách lo liệu, tìm cách giật gấu vá vai, chỉ lo sửa chữa là chủ yếu, khó lo cho việc thay thế. Nỗi lo cho điện hạ thế không nên chỉ để riêng ngành điện phải gánh. Nhà nước, các cấp có thẩm quyền cùng địa phương cần tìm cách hỗ trợ, quan tâm đến những tỉnh khó khăn do địa bàn rộng, hộ nông dân dùng điện nhiều, lưới điện đã cũ nát cần thay thế. Nếu vì thiếu vốn, đề nghị Nhà nước cho những giải pháp hữu hiệu trong việc huy động vốn xã hội, vay vốn của nước ngoài để đầu tư làm cho hệ thống lưới điện này bền vững, đáp ứng yêu cầu sản xuất và dân sinh của cộng đồng các dân tộc.

Theo Nhandan