Thứ sáu,  07/05/2021

Duy trì tính bền vững đối với chuẩn quốc gia về y tế xã

Bác sĩ khám bệnh cho người dân xã Ba Nam, huyện Ba Tơ (Quảng Ngãi). Ảnh: MINH HẢI Từ khi chuẩn Quốc gia về y tế xã đuợc ban hành, mạng lưới y tế xã ngày một hoàn thiện, chất lượng khám, chữa bệnh được nâng cao, đã góp phần giảm tình trạng quá tải nguời bệnh cho tuyến trên. Kết quả lớn nhất, đó là đã huy động được mọi nguồn lực, sự ủng hộ, của cả hệ thống chính trị trong công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân tại các địa phương trong cả nuớc thời gian qua.Đứng trước nhu cầu về chăm sóc sức khỏe ngày càng cao của người dân, trong khi đó với mạng lưới y tế tuyến xã chậm đổi mới, cơ sở vật chất nhiều nơi xuống cấp, thiếu trang thiết bị, đội ngũ cán bộ vừa thiếu, vừa yếu, đặc biệt là ở miền núi, vùng sâu, vùng xa. Nhằm khắc phục tình trạng trên, ngày 22-1-2002, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra Chỉ thị số: 06/2001/CT-T.Ư về củng cố và hoàn thiện mạng lưới y tế cơ sở. Thực hiện Chị thị nói trên, Bộ Y...


Bác sĩ khám bệnh cho người dân xã Ba Nam, huyện Ba Tơ (Quảng Ngãi). Ảnh: MINH HẢI

Từ khi chuẩn Quốc gia về y tế xã đuợc ban hành, mạng lưới y tế xã ngày một hoàn thiện, chất lượng khám, chữa bệnh được nâng cao, đã góp phần giảm tình trạng quá tải nguời bệnh cho tuyến trên. Kết quả lớn nhất, đó là đã huy động được mọi nguồn lực, sự ủng hộ, của cả hệ thống chính trị trong công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân tại các địa phương trong cả nuớc thời gian qua.

Đứng trước nhu cầu về chăm sóc sức khỏe ngày càng cao của người dân, trong khi đó với mạng lưới y tế tuyến xã chậm đổi mới, cơ sở vật chất nhiều nơi xuống cấp, thiếu trang thiết bị, đội ngũ cán bộ vừa thiếu, vừa yếu, đặc biệt là ở miền núi, vùng sâu, vùng xa. Nhằm khắc phục tình trạng trên, ngày 22-1-2002, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra Chỉ thị số: 06/2001/CT-T.Ư về củng cố và hoàn thiện mạng lưới y tế cơ sở. Thực hiện Chị thị nói trên, Bộ Y tế đã ra Quyết định số: 370/2002/QĐ-BYT ngày 7-2-2002, về việc ban hành Chuẩn quốc gia về y tế xã giai đoạn 2001 – 2010, với 10 chuẩn cụ thể: Xã hội hóa chăm sóc sức khỏe và bảo vệ sức khỏe nhân dân và công tác truyền thông giáo dục sức khỏe; vệ sinh phòng bệnh; khám, chữa bệnh và hồi phục chức năng; y học cổ truyền; chăm sóc sức khỏe trẻ em; chăm sóc sức khỏe sinh sản; cơ sở hạ tầng và trang thiết bị; nhân lực và chế độ chính sách; kế hoạch và tài chính; thuốc thiết yếu và sử dụng thuốc an toàn.

Sau khi chuẩn quốc gia về y tế xã được ban hành, mạng lưới y tế xã đã được tăng cường đầu tư và củng cố trong toàn quốc. Có thể nói, chuẩn quốc gia về y tế xã, được coi như một cái “mốc” để tất cả các địa phương cùng hướng đến với những mục tiêu cụ thể, được thể hiện rõ nét qua việc huy động các nguồn lực đầu tư cho trạm y tế (TYT). Theo thống kê của Bộ Y tế, có đến 40% nguồn ngân sách từ tỉnh, huyện, tiếp đến là nguồn ngân sách của xã là 30% và nguồn ngân sách của người dân đóng góp là 10% để tu sửa, hay xây mới các TYT xã thời gian qua. Nếu như năm 2005 tỷ lệ xã trên toàn quốc mới đạt 35,7%, năm 2007 là 46,2% thì đến tháng 12-2010, tỷ lệ xã đạt chuẩn là 74,6% trong toàn quốc. Tại những xã được công nhận đạt chuẩn, đã có sự chuyển biến hết sức tích cực trong nhiều lĩnh vực: Người dân đã chú trọng hơn trong việc đến TYT khám, chữa bệnh thông thường, chất lượng khám, chữa bệnh được nâng lên, thu hút được số lượng lớn người bệnh đến khám, người dân không phải đến các cơ sở cung cấp dịch vụ tuyến trên, đã góp phần giảm tải cho các tuyến, giảm được chi phí về kinh tế trong khám, chữa bệnh cho người dân, nhất là đối với người nghèo, người thu nhập thấp ở các vùng nông thôn và miền núi. Các chương trình y tế quốc gia; công tác phòng, chống dịch bệnh luôn đạt và vượt mức kế hoạch được giao. Việc xây dựng kế hoạch, triển khai các hoạt động phòng, chống và kiểm soát dịch bệnh đã đi vào nền nếp từ khâu đào tạo, nâng cao năng lực cán bộ, cũng như tổ chức triển khai, hệ thống biểu mẫu báo cáo, sổ sách, thống kê luôn được bảo đảm theo đúng quy định của ngành. Hiện nay, đã có hơn 70% số hộ gia đình tại các xã chuẩn sử dụng nước sạch, hố xí hợp vệ sinh, xử lý rác với khu vực nông thôn và hơn 90% với khu vực thành thị. Nguồn nhân lực tại các TYT đạt chuẩn, đã được chuẩn hóa về số lượng và cơ cấu chuyên môn theo đúng như quy định của Bộ Y tế.

Mặc dù đã đạt được những kết quả tích cực thời gian qua, nhưng có một thực tế, tỷ lệ chuẩn tại một số địa phương còn thấp, nhất là các tỉnh miền núi còn nhiều khó khăn như: Tỉnh Cao Bằng 25,6%; Gia Lai 17,1%; Bắc Cạn 25,4%…, nguyên nhân chủ yếu là chưa đạt chuẩn về cơ sở hạ tầng do thiếu kinh phí, do không huy động được nguồn lực tại chỗ, trong khi đó chưa có nguồn ngân sách từ trung ương đầu tư cho mạng lưới TYT xã, chủ yếu là ngân sách địa phương và sự hỗ trợ của Bộ Y tế thông qua các nguồn hỗ trợ từ nước ngoài. Việc thiếu cán bộ, cũng như năng lực cán bộ nhiều nơi còn yếu chưa đáp ứng được chuẩn. Tuy nhiên, nhằm khuyến khích động viên để cho các địa phương tiếp tục phấn đấu, nhiều TYT xã thiếu một vài chuẩn nhưng vẫn công nhận bằng việc cho “nợ” hoặc “chấm điểm gượng”. Việc thu hút nguồn lực, cũng như các chế độ đãi ngộ đối với các cán bộ công tác tại TYT vẫn còn nhiều bất cập, chưa có sự đột phá dẫn đến tình trạng nhiều địa phương dù đã đạt rất nhiều chuẩn nhưng vẫn không được công nhận do thiếu cán bộ có trình độ chuyên môn cao. Ngoài ra, việc triển khai khám, chữa bệnh bằng thẻ bảo hiểm ở tuyến xã hiện nay chưa được rộng khắp, vì vậy người dân chưa được hưởng nhiều quyền lợi trong việc chi trả cho các dịch vụ y tế tại tuyến xã. Đó cũng là một trong những lý do khiến người dân bỏ qua việc sử dụng các dịch vụ y tế ở tuyến xã, do vậy người dân thường tìm kiếm dịch vụ y tế ở tuyến trên.

Có một thực tế đang diễn ra ở nhiều địa phương, phấn đấu đạt chuẩn đã khó, giữ được chuẩn lại khó hơn gấp nhiều lần. Theo số liệu điều tra tại 49 tỉnh của Viện Chiến lược và Chính sách y tế, các chuẩn hiện nay khó duy trì nhất là: Chuẩn cơ sở hạ tầng, trang thiết bị (63,3% số tỉnh được điều tra); chuẩn về y học cổ truyền (61,2%); chuẩn về nhân lực (53,1%) và chuẩn về kế hoạch – tài chính (49,9%)…, đây là một trong những thách thức rất lớn đối với các cấp chính quyền và ngành y tế. Nhằm khắc phục những khó khăn cũng như duy trì và phát huy những kết quả đã đạt được, thiết nghĩ, trong những năm tới các cấp chính quyền, ngành y tế tập trung vào những nội dung sau: Tăng cường bố trí nguồn ngân sách địa phương theo sự chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ và huy động các nguồn vốn hợp pháp để đầu tư cho các TYT để tiếp tục duy trì và đạt chuẩn; nâng cao chất lượng dịch vụ cung cấp cho người dân; tăng cường việc đào tạo, tuyển dụng và có những chính sách đãi ngộ cán bộ làm việc tại xã, nhất là cán bộ công tác ở các xã vùng khó khăn và cán bộ làm công tác y học cổ truyền; tăng cường công tác truyền thông giáo dục sức khỏe, nhằm nâng cao ý thức người dân trong việc bảo vệ sức khỏe, vệ sinh môi trường, xử lý rác, xây dựng hố xí bảo đảm vệ sinh…

Theo Nhandan