Thứ bảy,  15/05/2021

Lễ hội truyền thống trong hội nhập và phát triển

Tuy nhiên, trong sự phát huy, phát triển đó, cần hết sức chú ý đến yếu tố bản sắc văn hóa, truyền thống văn hóa. Bởi, dù phát triển đến đâu thì chỉ có bản sắc văn hóa mới làm nên nét đặc trưng của từng lễ hội. Do đó, trong công tác tổ chức, quản lý cần đặc biệt chú ý tới yếu tố này. Mỗi lễ hội sẽ có một diễn trình riêng nên cần tránh tình trạng “kịch bản lễ hội” nơi nào cũng giống nhau. Được như vậy, lễ hội sẽ thực sự là tâm điểm, ngày hội của cộng đồng, đảm bảo “hòa nhập” nhưng “không hòa tan”.

LSO-Từ lâu, lễ hội truyền thống đã gắn bó mật thiết với đời sống sinh hoạt văn hóa tinh thần của các cộng đồng dân cư. Trải qua những bước thăng trầm cùng quê hương, đất nước, nhiều lễ hội truyền thống đến nay vẫn được gìn giữ, bảo tồn, phát huy và ngày càng phát triển.
Rước kiệu trong lễ hội đền Kỳ Cùng – Tả Phủ thành phố Lạng Sơn
Trên cơ sở “kế thừa trong sự phát triển”, “kế thừa có chọn lọc”, trong bối cảnh quê hương, đất nước hội nhập và phát triển như ngày hôm nay, việc bảo tồn và phát huy lễ hội truyền thống lại càng được đặt ra vừa mang tính cấp thiết, vừa mang tính lâu dài.
Lạng Sơn mỗi năm có khoảng 300 lễ hội lớn nhỏ được tổ chức. Trong đó có những lễ hội đã mang tính vùng, khu vực như Hội đầu pháo Kỳ Lừa (thành phố Lạng Sơn), lễ hội Đồng Đăng, Bắc Nga (huyện Cao Lộc)… Những năm gần đây, công tác bảo tồn và phát huy các lễ hội truyền thống trên địa bàn hết sức được quan tâm. Điều này được thể hiện rõ nét thông qua các chương trình, hoạt động cụ thể như: nghiên cứu, sưu tầm, khôi phục một số lễ hội tiêu biểu với diễn trình truyền thống hay phát triển, bổ sung thêm các nội dung làm cho lễ hội thêm giàu bản sắc, rồi tiếp tục duy trì các hoạt động trong lễ hội đã có để ngày càng đi vào nền nếp, hoàn thiện hơn. Các lễ hội tiêu biểu đã được ghi chép, lưu đĩa CD để làm tư liệu bảo quản, gìn giữ lâu dài như: lễ hội lồng tồng Bủng Kham xã Đại Đồng, hội báo slao xã Quốc Khánh (Tràng Định), lễ hội phài lừa xã Hồng Phong, lễ hội lồng tồng Bản Chu, xã Hưng Đạo (Bình Gia) , lễ hội Quỳnh Sơn (Bắc Sơn), lễ hội Trò Ngô (Yên Thịnh, Hữu Lũng), lễ hội Nà Cưởm, Tân Lang (Văn Lãng)… Đi đôi với đó, việc kiên quyết loại bỏ, bài trừ các nội dung lạc hậu, rườm rà, tốn kém không còn phù hợp với xu thế phát triển của xã hội nhưng vẫn đảm bảo cho lễ hội tiên tiến mà đậm đà bản sắc dân tộc cũng được đẩy mạnh. Mặt khác, công tác quản lý các hoạt động lễ hội theo đúng quy định của pháp luật luôn được chú trọng, nhất là thực hiện nếp sống văn minh trong lễ hội theo tinh thần Chỉ thị 27- CT/TW năm 1998 về việc thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội được tăng cường. Bước vào giai đoạn 2011 – 2015, tỉnh đã có quyết định về việc phê duyệt Đề án bảo tồn di sản văn hóa tỉnh Lạng Sơn. Theo đó, trong mục tiêu cụ thể cũng chỉ rõ, đến năm 2015, tổng điều tra xong các loại hình văn hóa phi vật thể. Phấn đấu 20% lễ hội tiêu biểu trên địa bàn tỉnh được phục dựng… Như vậy, có thể thấy, sự quan tâm của tỉnh trong bảo tồn, phát huy di sản văn hóa luôn được quan tâm, với những chương trình hành động cụ thể, phù hợp với các giai đoạn, trong đó có di sản lễ hội.
Theo báo cáo của cơ quan chức năng, chuẩn bị cho mùa lễ hội năm mới, hàng năm, tỉnh đều thành lập Ban Chỉ đạo lễ hội Xuân Xứ Lạng. Trong đó thành lập các tiểu ban nội dung, tuyên truyền, khánh tiết; lễ tân, hậu cần; bảo vệ an ninh và sức khỏe. Các lễ hội đều có Ban tổ chức, có chương trình rõ ràng theo đúng quy định của Nhà nước, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, văn bản chỉ đạo của tỉnh. Trong phần hội, ngoài các trò chơi, trò diễn dân gian còn kết hợp thêm các hoạt động văn hóa, thể thao hiện đại như biểu diễn văn nghệ quần chúng, bóng đá, bóng chuyền, cầu lông…
Nhằm đáp ứng nhu cầu văn hóa của nhân dân, thực hiện công tác bảo tồn, phát huy di sản lễ hội, đơn cử như tại lễ hội Nhị, Tam Thanh, từ năm 2010, trong chương trình, Ban tổ chức đã đưa thêm nội dung rước kiệu. Đây là sự phát triển làm cho lễ hội càng được tôn vinh đậm nét mà vẫn giữ được tính chất lễ hội du xuân, vãn cảnh di tích, cầu tài lộc. Đồng thời nhắc nhở mọi người luôn nhớ tới công lao của danh nhân Ngô Thì Sỹ – người đã phát hiện và đặt tên cho 8 cảnh đẹp của Xứ Lạng được gọi là “Trấn doanh bát cảnh”. Nghi lễ rước kiệu bài vị danh nhân Ngô Thì Sỹ từ di tích Nhị Thanh sang Tam Thanh qua các trục phố chính nhận được sự chào đón, kính ngưỡng của nhân dân và đông đảo du khách. Theo Ban quản lý di tích tỉnh, việc đưa thêm nội dung rước kiệu vào chương trình lễ hội Nhị, Tam Thanh đã góp phần ý nghĩa vào việc giới thiệu đậm nét về di tích danh thắng cũng như các di sản văn hóa khác. Đồng thời đáp ứng nhu cầu văn hóa lễ hội, tạo ấn tượng sâu sắc hơn về một trong những lễ hội truyền thống tiêu biểu của Lạng Sơn.
Những năm gần đây, công tác bảo tồn và phát huy các lễ hội
truyền thống trên địa bàn hết sức được quan tâm
Về nghi lễ rước kiệu trong lễ hội, trên địa bàn Lạng Sơn, có thể thấy ở các lễ hội như xã Quỳnh Sơn (Bắc Sơn), đặc biệt là lễ hội đền Kỳ Cùng – đền Tả Phủ (thành phố Lạng Sơn)… và từ năm 2010 có thêm lễ hội chùa Nhị, Tam Thanh. Nghi lễ rước kiệu được coi là cầu nối giữa “phần lễ“ với “phần hội“. Mỗi năm hội mở, ai cũng mong ngóng, đón chào. Bởi, mọi người quan niệm, đây là thời điểm rất tốt cho việc cầu ước những điều may mắn, tốt lành, viên mãn sẽ đến với bản thân và gia đình trong cả năm mới. Ẩn tàng trong đó là ý nghĩa nhân văn sâu sắc, thể hiện truyền thống đạo lý từ ngàn xưa của dân tộc ta – “Uống nước nhớ nguồn”. Thông qua nghi lễ, nét hay, nét đẹp của lễ hội ngày càng ăn sâu vào tiềm thức mọi người hơn. Nghi lễ này trải qua thời gian dài và do điều kiện khách quan đã có lúc không tổ chức được nhưng khi có điều kiện thì lập tức được khôi phục và tổ chức trở lại. Điều đó nói lên rằng, những nét đẹp truyền thống của cả cộng đồng thì không dễ gì mất đi mà chỉ là lúc này, lúc khác chìm lắng xuống rồi khi có điều kiện sẽ phát triển trở lại, thậm chí còn được nâng tầm và hoàn thiện hơn về quy mô… Quả thật, “bản sắc văn hóa“ luôn là yếu tố sẽ trường tồn với thời gian. Ngày xuân bàn về bảo tồn, phát huy lễ hội truyền thống trong thời kỳ hội nhập và phát triển, càng thấy rằng, sự khôi phục và phát triển của các lễ hội truyền thống là tất yếu.
Tuy nhiên, trong sự phát huy, phát triển đó, cần hết sức chú ý đến yếu tố bản sắc văn hóa, truyền thống văn hóa. Bởi, dù phát triển đến đâu thì chỉ có bản sắc văn hóa mới làm nên nét đặc trưng của từng lễ hội. Do đó, trong công tác tổ chức, quản lý cần đặc biệt chú ý tới yếu tố này. Mỗi lễ hội sẽ có một diễn trình riêng nên cần tránh tình trạng “kịch bản lễ hội” nơi nào cũng giống nhau. Được như vậy, lễ hội sẽ thực sự là tâm điểm, ngày hội của cộng đồng, đảm bảo “hòa nhập” nhưng “không hòa tan”.

Hoàng Hà